Hôm nay,  

Đọc Sách Tràng Thiên

24/09/201300:00:00(Xem: 8826)
Thể loại văn tùy bút được cụ Nguyễn Hiến Lê ca ngợ như cuộc trò chuyện thanh nhã, theo lời nhắc lại của nhà phê bình Quang Khuê trên báo Tuổi Trẻ. Và đặc biệt, nhìn lại bối cảnh này, có vẻ như trước giờ chúng ta đã lâu không còn trò chuyện thanh nhã nữa, khi nhạc đỏ hét bên tai và khi những đợt đốt sách của nền văn hóa cũ tại Miền Nam vẫn còn mùi giấy cháy...

Bài viết tưạ đề “Một cuộc trò chuyện thanh nhã” của nhà phê bình Quang Khuê có những dòng chữ đầu để dẫn:

“Trong lời tựa viết cho cuốn Quê hương tôi (Nhã Nam & NXB Thời Đại - 2012), Nguyễn Hiến Lê có nhận xét về thể loại tùy bút: “Nó rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy, tưởng là dễ viết mà thực ra rất khó; phải có giọng thân mật, hấp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những người bạn đồng điệu lúc ngồi bên giàn hoa hay một ấm trà, lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị”.

Với độc giả Việt Nam, sau bấy nhiêu năm, chúng ta hẳn cũng không cần gì hơn ở tác phẩm “một câu chuyện thanh nhã” như vậy. Đọc tùy bút là nhẩn nha trò chuyện, là thưởng thức một cái tôi thầm kín trong từng nếp nghĩ, nếp nhìn, là quan sát mọi khía cạnh của sự vật ngẫu nhiên một cách tinh tế.

Tràng Thiên là một trong những cây bút bậc nhất miền Nam về thể loại tùy bút. Ông được Nguyễn Hiến Lê đánh giá là “sâu sắc như Nguyễn Tuân mà tự nhiên hơn, dí dỏm hơn, đề tài phong phú hơn, đa dạng hơn” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - NXB Văn Học - 2006).

Năm 2012, cuốn tạp bút Quê hương tôi được in dường như đã giúp độc giả tìm lại được những khía cạnh mất mát trong văn hóa truyền thống dân tộc. Từng lời ăn tiếng nói, mỗi phong tục tập quán, đến những suy nghĩ của người Việt được đong đếm, phân tách rõ ràng.

Sau hơn một năm, tập Tạp văn Tràng Thiên được xuất bản (Nhã Nam & NXB Thời Đại) bao gồm 20 bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau như tùy bút, phê bình, đối thoại, lời tựa sách, phỏng vấn được thực hiện từ những năm 1960 đến năm 2000. So với cuốn Quê hương tôi chủ yếu nói về khía cạnh văn hóa, xã hội Việt Nam thì tập Tạp văn này có nội dung đa dạng hơn...”(ngưng trích)

Tràng Thiên, Tràng Thiên... Đó là một thời thơ ấu của mình, khi mới cầm sách lên để đọc, và say mê. Những cái tên lúc đó đã đi vào tuổi thơ của mình là Tràng Thiên, Sơn Nam, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nhã Ca, Túy Hồng... Nhưng Tràng Thiên là ai? Đó là bút hiệu khác của Võ Phiến.

Tại sao chính phủ vẫn cấm sử dụng bút hiệu Võ Phiến? Và chỉ cho sử dụng duy bút hiệu Tràng Thiên? Và tại sao từ sách tới báo tại nơi “đất nước ngàn lần dân chủ hơn thế giới tư bản” vẫn còn cấm nhắc tên Võ Phiến? Có phải hai chữ “Võ” và “Phiến” mang sức mạnh công phá hơn bom đạn thời trước 1975?

Phải nói rằng, mình không thâý ai viết tùy bút hay hơn Võ Phiến. Tuy cụ Nguyễn Hiến Lê nói rằng văn tùy bút Tràng Thiên (tức Võ Phiến) hay hơn Nguyễn Tuân, thì theo thiển ý, cũng là quá lời... lẽ ra nên nói, văn hai cụ Nguyễn Tuân và Võ Phiến mỗi người mỗi vẻ đẹp riêng – nhưng chắc chắn là sâu sắc thì cụ Võ Phiến (tức cụ Tràng Thiên) sâu sắc hơn nhiều.

Nhưng mình biết rằng giới trẻ chẳng có mấy ai biết Tràng Thiên là bút hiệu ít xài của cụ Võ Phiến. Nơi đây, mình trích dẫn từ giáo sư Nguyễn Hưng Quốc trong chương “Vài ghi chú về tiểu sử” từ cuốn “Võ Phiến – có thể đọc ở Tiền Vệ, http://tienve.org/ -- sách được nhà Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1996, về cuộc đời nah2 văn Võ Phiến:

“...Trong lãnh vực văn hoá, ông là một thành viên trong Hội đồng văn hoá giáo dục Miền Nam từ 1970 đến 1974; giáo sư văn chương tại trường Đại học Hoà Hảo tại Long Xuyên và Đại học Phương Nam tại Sài Gòn từ 1973 đến 1975.

...Trên Bách Khoa, Võ Phiến, ngoài phần sáng tác và biên khảo, còn đảm nhiệm luôn cả các mục điểm sách, thời sự văn học nghệ thuật và thỉnh thoảng, phần dịch thuật dưới bút hiệu Tràng Thiên và Thu Thuỷ (Tràng Thiên, thoạt đầu là bút danh chung của Ban biên tập Bách Khoa, sau, từ khoảng 1964, 65 giao hẳn cho Võ Phiến). Năm 1960, ông được tặng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc với cuốn Mưa đêm cuối năm. Từ năm 1961 về sau, ông được mời vào Hội đồng giám khảo của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc. Năm 1962, ông lập nhà xuất bản Thời Mới để trước hết, tự in sách mình và sách của các cây bút mới và sau đó, giới thiệu các trào lưu, các phương hướng sáng tác hiện đại. Trên tờ Bách Khoa cũng như với nhà xuất bản Thời Mới, Võ Phiến được mọi người ghi nhận là có công phát hiện và/hoặc giới thiệu nhiều cây bút trẻ và tài hoa tại Miền Nam lúc ấy như Nguyễn Xuân Hoàng, Thế Uyên, Y Uyên, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Đỗ Tiến Đức, Nguyễn Đức Sơn...

Về sáng tác, từ 1956 đến 1975, ở Việt Nam, ông xuất bản hơn hai mươi tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm truyện dài, truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu luận và dịch thuật (tất cả các tác phẩm dịch thuật đều ký dưới bút hiệu Tràng Thiên).

Ngày 22 tháng 4.1975, tức tám ngày trước khi Sài Gòn bị sụp đổ, Võ Phiến cùng vợ và người con út rời Việt Nam, di tản qua Mỹ...”(ngưng trích)

Thử suy nghĩ xem: có phải nhà nước bây giờ cấm sử dụng tên cụ Võ Phiến, mà ép phaỉ xài tên Tràng Thiên, chỉ vì cụ thắng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1960 của VNCH?

Và có phải, cũng vì cụ Võ Phiến nhanh chân, chạy kịp sang Mỹ năm 1975?

Tại sao Hà Nội thù dai, nhớ kỹ với những mộts ố bút hiệu như thế, trong khi họ đã là một phần lịch sử, và sách của họ chắc chắn sẽ được lưu giữ và nghiên cứu nhiều trăm năm sau nữa?

Chuyện vừa mới xảy ra tại VN, làm biết bao nhiêu Phật Tử nản lòng: một nhà sư lên sân khấu hôn môi với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. Chưa hết, đây là buổi văn nghệ gây quỹ, nghĩa là sư đã phạm giới vui chơi văn nghệ. Chưa hết, sư lại lấy tiền ra mua một chai rượu -- Nghĩa là xài tiền chúng sinh cúng dường, và mua một món bị giới luật cấm.
Với lòng tin, chúng ta có thể nhìn ra đủ thứ hình Phật, Chúa, Tiên, Thánh... trên các chòm mây. Tất nhiên, nói thế chỉ đơn giản có ý rằng chính nhân loaị đã nhận ra đủ thứ hiện tượng tùy tâm hóa hiện. Có thể là có thật, cũng có thể là ảo tưởng. Nhưng ít nhất, niềm tin vào cảnh giới siêu hình sẽ gìn giữ chúng ta trong cương vực đaọ đức. Không dám làm ác nữa. Hoặc giả, sẽ giảm bớt làm ác.
Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng biệt, trong đó âm nhạc là một mảng gìn giữ di sản trao truyền nhiều đời. Dĩ nhiên, qua thời gian rồi sẽ có những mảng biến mất, nhưng không vì thế mà chúng ta phải hấp tấp chạy theo nhạc Tây,
Có cầu, tất có cung. Đó là quy luật thị trường. Tự nhiên như thế. Có những chuyện muôn đời đã thấy như thế. Cứ nhìn vào thị trường cũng thấy, các cửa khẩu biên giới đang là nơi tuôn vào gà lậu, gạo lậu, điện thoại lậu, vàng lậu, vân vân... nghĩa là đủ thứ thượng vàng hạ cám.
Người nông dân trước giờ được ca ngợi là chỗ dựa của đảng và nhà nước CSVN, nhưng bây giờ thì hết rồi. Bất kể rằng, nông dân thời nào cũng muốn bình yên, vì muốn lo chuyện cơm no, áo ấm là đủ.
Ngày xưa, đọc truyện Tàu, cứ nghe chuyện dân giang hồ ưa đặt trạm để thu tiền mãi lộ, tớ chẳng hiểu bao nhiêu. Bây giờ ngẫm chuyện nước mình thì mới ngộ ra lắm chuyện.
Một thời chúng ta nghe chuyện rằng xã hội chủ nghĩa là nơi ai cũng có cơ hội bình đẳng, nơi ai cũng “làm theo lao động, hưởng theo nhu cầu,” nhưng rồi những hình ảnh mơ tưởng này đã tan vỡ từ mấy thập niên nay, kể từ khi Miền Bắc khám phá ra một Miền Nam của thịnh vượng, của tự do, của dân chủ, và của tử tế nhiều lần hơn.
Có vẻ như Việt Nam đang lạm phát văn bằng. Kể cả văn bằng Tiến sĩ. Chuyện mới lạ, nước vẫn nghèo, mà văn bằng Tiến sĩ đầy phố, chẳng thấy phát minh gì, chỉ thấy “thật, giả” không còn phân biệt nổi.
Đất nước vẫn còn lúng túng, cứ như dường chưa biết phải đổi mới giáo dục ra sao để có thể chạy kịp với các nước láng giềng.
Trước giờ chúng ta đã quen nghe về chuyện kể rằng các ảnh hình của “Bác Hồ cần lộng kiếng...” Nói theo dân gian, “lộng kiếng” là liệng cống.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.