Hôm nay,  

Đọc Sách Tràng Thiên

24/09/201300:00:00(Xem: 8883)
Thể loại văn tùy bút được cụ Nguyễn Hiến Lê ca ngợ như cuộc trò chuyện thanh nhã, theo lời nhắc lại của nhà phê bình Quang Khuê trên báo Tuổi Trẻ. Và đặc biệt, nhìn lại bối cảnh này, có vẻ như trước giờ chúng ta đã lâu không còn trò chuyện thanh nhã nữa, khi nhạc đỏ hét bên tai và khi những đợt đốt sách của nền văn hóa cũ tại Miền Nam vẫn còn mùi giấy cháy...

Bài viết tưạ đề “Một cuộc trò chuyện thanh nhã” của nhà phê bình Quang Khuê có những dòng chữ đầu để dẫn:

“Trong lời tựa viết cho cuốn Quê hương tôi (Nhã Nam & NXB Thời Đại - 2012), Nguyễn Hiến Lê có nhận xét về thể loại tùy bút: “Nó rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy, tưởng là dễ viết mà thực ra rất khó; phải có giọng thân mật, hấp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những người bạn đồng điệu lúc ngồi bên giàn hoa hay một ấm trà, lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị”.

Với độc giả Việt Nam, sau bấy nhiêu năm, chúng ta hẳn cũng không cần gì hơn ở tác phẩm “một câu chuyện thanh nhã” như vậy. Đọc tùy bút là nhẩn nha trò chuyện, là thưởng thức một cái tôi thầm kín trong từng nếp nghĩ, nếp nhìn, là quan sát mọi khía cạnh của sự vật ngẫu nhiên một cách tinh tế.

Tràng Thiên là một trong những cây bút bậc nhất miền Nam về thể loại tùy bút. Ông được Nguyễn Hiến Lê đánh giá là “sâu sắc như Nguyễn Tuân mà tự nhiên hơn, dí dỏm hơn, đề tài phong phú hơn, đa dạng hơn” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - NXB Văn Học - 2006).

Năm 2012, cuốn tạp bút Quê hương tôi được in dường như đã giúp độc giả tìm lại được những khía cạnh mất mát trong văn hóa truyền thống dân tộc. Từng lời ăn tiếng nói, mỗi phong tục tập quán, đến những suy nghĩ của người Việt được đong đếm, phân tách rõ ràng.

Sau hơn một năm, tập Tạp văn Tràng Thiên được xuất bản (Nhã Nam & NXB Thời Đại) bao gồm 20 bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau như tùy bút, phê bình, đối thoại, lời tựa sách, phỏng vấn được thực hiện từ những năm 1960 đến năm 2000. So với cuốn Quê hương tôi chủ yếu nói về khía cạnh văn hóa, xã hội Việt Nam thì tập Tạp văn này có nội dung đa dạng hơn...”(ngưng trích)

Tràng Thiên, Tràng Thiên... Đó là một thời thơ ấu của mình, khi mới cầm sách lên để đọc, và say mê. Những cái tên lúc đó đã đi vào tuổi thơ của mình là Tràng Thiên, Sơn Nam, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nhã Ca, Túy Hồng... Nhưng Tràng Thiên là ai? Đó là bút hiệu khác của Võ Phiến.

Tại sao chính phủ vẫn cấm sử dụng bút hiệu Võ Phiến? Và chỉ cho sử dụng duy bút hiệu Tràng Thiên? Và tại sao từ sách tới báo tại nơi “đất nước ngàn lần dân chủ hơn thế giới tư bản” vẫn còn cấm nhắc tên Võ Phiến? Có phải hai chữ “Võ” và “Phiến” mang sức mạnh công phá hơn bom đạn thời trước 1975?

Phải nói rằng, mình không thâý ai viết tùy bút hay hơn Võ Phiến. Tuy cụ Nguyễn Hiến Lê nói rằng văn tùy bút Tràng Thiên (tức Võ Phiến) hay hơn Nguyễn Tuân, thì theo thiển ý, cũng là quá lời... lẽ ra nên nói, văn hai cụ Nguyễn Tuân và Võ Phiến mỗi người mỗi vẻ đẹp riêng – nhưng chắc chắn là sâu sắc thì cụ Võ Phiến (tức cụ Tràng Thiên) sâu sắc hơn nhiều.

Nhưng mình biết rằng giới trẻ chẳng có mấy ai biết Tràng Thiên là bút hiệu ít xài của cụ Võ Phiến. Nơi đây, mình trích dẫn từ giáo sư Nguyễn Hưng Quốc trong chương “Vài ghi chú về tiểu sử” từ cuốn “Võ Phiến – có thể đọc ở Tiền Vệ, http://tienve.org/ -- sách được nhà Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1996, về cuộc đời nah2 văn Võ Phiến:

“...Trong lãnh vực văn hoá, ông là một thành viên trong Hội đồng văn hoá giáo dục Miền Nam từ 1970 đến 1974; giáo sư văn chương tại trường Đại học Hoà Hảo tại Long Xuyên và Đại học Phương Nam tại Sài Gòn từ 1973 đến 1975.

...Trên Bách Khoa, Võ Phiến, ngoài phần sáng tác và biên khảo, còn đảm nhiệm luôn cả các mục điểm sách, thời sự văn học nghệ thuật và thỉnh thoảng, phần dịch thuật dưới bút hiệu Tràng Thiên và Thu Thuỷ (Tràng Thiên, thoạt đầu là bút danh chung của Ban biên tập Bách Khoa, sau, từ khoảng 1964, 65 giao hẳn cho Võ Phiến). Năm 1960, ông được tặng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc với cuốn Mưa đêm cuối năm. Từ năm 1961 về sau, ông được mời vào Hội đồng giám khảo của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc. Năm 1962, ông lập nhà xuất bản Thời Mới để trước hết, tự in sách mình và sách của các cây bút mới và sau đó, giới thiệu các trào lưu, các phương hướng sáng tác hiện đại. Trên tờ Bách Khoa cũng như với nhà xuất bản Thời Mới, Võ Phiến được mọi người ghi nhận là có công phát hiện và/hoặc giới thiệu nhiều cây bút trẻ và tài hoa tại Miền Nam lúc ấy như Nguyễn Xuân Hoàng, Thế Uyên, Y Uyên, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Đỗ Tiến Đức, Nguyễn Đức Sơn...

Về sáng tác, từ 1956 đến 1975, ở Việt Nam, ông xuất bản hơn hai mươi tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm truyện dài, truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu luận và dịch thuật (tất cả các tác phẩm dịch thuật đều ký dưới bút hiệu Tràng Thiên).

Ngày 22 tháng 4.1975, tức tám ngày trước khi Sài Gòn bị sụp đổ, Võ Phiến cùng vợ và người con út rời Việt Nam, di tản qua Mỹ...”(ngưng trích)

Thử suy nghĩ xem: có phải nhà nước bây giờ cấm sử dụng tên cụ Võ Phiến, mà ép phaỉ xài tên Tràng Thiên, chỉ vì cụ thắng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1960 của VNCH?

Và có phải, cũng vì cụ Võ Phiến nhanh chân, chạy kịp sang Mỹ năm 1975?

Tại sao Hà Nội thù dai, nhớ kỹ với những mộts ố bút hiệu như thế, trong khi họ đã là một phần lịch sử, và sách của họ chắc chắn sẽ được lưu giữ và nghiên cứu nhiều trăm năm sau nữa?

Nền giáo dục Việt Nam có những gì đáng quan ngại? Hình như là đáng ngại nhiều lắm. Rất là đáng ngại.
Bước vào sân trường đại học là ước mơ của mọi người... bất kể bạn là người Việt, hay là Tây, Tàu, Mỹ, Nhật. Bởi vì sân trường đaị học luôn luôn là nơi những trí tuệ được khai sinh, các khám phá được khuyến khích, và tinh thần cầu học được nâng đỡ.
Hãy hình dung rằng, bạn bước vào một ngôi chùa cần phải mua vé để vào... Hãy hình dung rằng tất cả các chùa tại Việt Nam sẽ nhận lệnh từ nhà nước Việt Nam để bước theo gương đàn anh Thiếu Lâm Tự là phải mua vé mới được vào chùa xem tượng Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma và tượng các vị La Hán ngồi thiền.
Mỗi lần đọc về Nhân Văn Giai Phẩm là lại bùi ngùi. Ai biết được nỗi đau của các văn nghệ sĩ, khi nỗ lực cầm bút tự do sao mà khó vậy.
Nếu bạn có về thăm quê nhà, xin mời bạn tới thăm vùng Núi Thị Vải ở Vũng Tàu, cánh rừng một thời hoang phế nhưng nay đã trở thành một rừng Thiền của chư Tăng, nơi các vị sư dựng lên những cái cốc nhỏ, dựng mái che mưa nắng, đặt một lu hứng nước mưa để uống...
Gần đây, có nhiều tin cho biết loài hoa ưu đàm đã mọc ở nhiều nơi tại Việt Nam. Có thực loài hoa trong Kinh Phật đã mọc tại Việt Nam hay không? Bởi vì theo truyền thuyết từ Kinh Phật, hoa ưu đàm chỉ mọc mỗi 3.000 năm một lần.
Chúng ta có một con số rất lạ: trong khi thế giới liên tục tăng lượng người sử dụng Internet, số lượng người Việt trong 6 tháng qua từ bỏ Internet.
Ca dao của ông bà mình hồi xưa có nói: Thương ai thương cả đường đi, Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng.
Học là chuyện mệt nhọc, không đam mê sẽ không miệt mài với chữ nghĩa được.
Tín ngưỡng dân gian là những gì lạ lùng, nó ăn sâu vào máu mình tự nhiên. Nơi đó là một tập thể, một sắc dân, một dân tộc... khi chia sẻ tín ngưỡng này đã tự hình thành một căn cước tập thể: chung một mái nhà tín ngưỡng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.