Hôm nay,  

Đọc Sách Tràng Thiên

24/09/201300:00:00(Xem: 9099)
Thể loại văn tùy bút được cụ Nguyễn Hiến Lê ca ngợ như cuộc trò chuyện thanh nhã, theo lời nhắc lại của nhà phê bình Quang Khuê trên báo Tuổi Trẻ. Và đặc biệt, nhìn lại bối cảnh này, có vẻ như trước giờ chúng ta đã lâu không còn trò chuyện thanh nhã nữa, khi nhạc đỏ hét bên tai và khi những đợt đốt sách của nền văn hóa cũ tại Miền Nam vẫn còn mùi giấy cháy...

Bài viết tưạ đề “Một cuộc trò chuyện thanh nhã” của nhà phê bình Quang Khuê có những dòng chữ đầu để dẫn:

“Trong lời tựa viết cho cuốn Quê hương tôi (Nhã Nam & NXB Thời Đại - 2012), Nguyễn Hiến Lê có nhận xét về thể loại tùy bút: “Nó rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy, tưởng là dễ viết mà thực ra rất khó; phải có giọng thân mật, hấp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những người bạn đồng điệu lúc ngồi bên giàn hoa hay một ấm trà, lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị”.

Với độc giả Việt Nam, sau bấy nhiêu năm, chúng ta hẳn cũng không cần gì hơn ở tác phẩm “một câu chuyện thanh nhã” như vậy. Đọc tùy bút là nhẩn nha trò chuyện, là thưởng thức một cái tôi thầm kín trong từng nếp nghĩ, nếp nhìn, là quan sát mọi khía cạnh của sự vật ngẫu nhiên một cách tinh tế.

Tràng Thiên là một trong những cây bút bậc nhất miền Nam về thể loại tùy bút. Ông được Nguyễn Hiến Lê đánh giá là “sâu sắc như Nguyễn Tuân mà tự nhiên hơn, dí dỏm hơn, đề tài phong phú hơn, đa dạng hơn” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - NXB Văn Học - 2006).

Năm 2012, cuốn tạp bút Quê hương tôi được in dường như đã giúp độc giả tìm lại được những khía cạnh mất mát trong văn hóa truyền thống dân tộc. Từng lời ăn tiếng nói, mỗi phong tục tập quán, đến những suy nghĩ của người Việt được đong đếm, phân tách rõ ràng.

Sau hơn một năm, tập Tạp văn Tràng Thiên được xuất bản (Nhã Nam & NXB Thời Đại) bao gồm 20 bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau như tùy bút, phê bình, đối thoại, lời tựa sách, phỏng vấn được thực hiện từ những năm 1960 đến năm 2000. So với cuốn Quê hương tôi chủ yếu nói về khía cạnh văn hóa, xã hội Việt Nam thì tập Tạp văn này có nội dung đa dạng hơn...”(ngưng trích)

Tràng Thiên, Tràng Thiên... Đó là một thời thơ ấu của mình, khi mới cầm sách lên để đọc, và say mê. Những cái tên lúc đó đã đi vào tuổi thơ của mình là Tràng Thiên, Sơn Nam, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nhã Ca, Túy Hồng... Nhưng Tràng Thiên là ai? Đó là bút hiệu khác của Võ Phiến.

Tại sao chính phủ vẫn cấm sử dụng bút hiệu Võ Phiến? Và chỉ cho sử dụng duy bút hiệu Tràng Thiên? Và tại sao từ sách tới báo tại nơi “đất nước ngàn lần dân chủ hơn thế giới tư bản” vẫn còn cấm nhắc tên Võ Phiến? Có phải hai chữ “Võ” và “Phiến” mang sức mạnh công phá hơn bom đạn thời trước 1975?

Phải nói rằng, mình không thâý ai viết tùy bút hay hơn Võ Phiến. Tuy cụ Nguyễn Hiến Lê nói rằng văn tùy bút Tràng Thiên (tức Võ Phiến) hay hơn Nguyễn Tuân, thì theo thiển ý, cũng là quá lời... lẽ ra nên nói, văn hai cụ Nguyễn Tuân và Võ Phiến mỗi người mỗi vẻ đẹp riêng – nhưng chắc chắn là sâu sắc thì cụ Võ Phiến (tức cụ Tràng Thiên) sâu sắc hơn nhiều.

Nhưng mình biết rằng giới trẻ chẳng có mấy ai biết Tràng Thiên là bút hiệu ít xài của cụ Võ Phiến. Nơi đây, mình trích dẫn từ giáo sư Nguyễn Hưng Quốc trong chương “Vài ghi chú về tiểu sử” từ cuốn “Võ Phiến – có thể đọc ở Tiền Vệ, http://tienve.org/ -- sách được nhà Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1996, về cuộc đời nah2 văn Võ Phiến:

“...Trong lãnh vực văn hoá, ông là một thành viên trong Hội đồng văn hoá giáo dục Miền Nam từ 1970 đến 1974; giáo sư văn chương tại trường Đại học Hoà Hảo tại Long Xuyên và Đại học Phương Nam tại Sài Gòn từ 1973 đến 1975.

...Trên Bách Khoa, Võ Phiến, ngoài phần sáng tác và biên khảo, còn đảm nhiệm luôn cả các mục điểm sách, thời sự văn học nghệ thuật và thỉnh thoảng, phần dịch thuật dưới bút hiệu Tràng Thiên và Thu Thuỷ (Tràng Thiên, thoạt đầu là bút danh chung của Ban biên tập Bách Khoa, sau, từ khoảng 1964, 65 giao hẳn cho Võ Phiến). Năm 1960, ông được tặng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc với cuốn Mưa đêm cuối năm. Từ năm 1961 về sau, ông được mời vào Hội đồng giám khảo của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc. Năm 1962, ông lập nhà xuất bản Thời Mới để trước hết, tự in sách mình và sách của các cây bút mới và sau đó, giới thiệu các trào lưu, các phương hướng sáng tác hiện đại. Trên tờ Bách Khoa cũng như với nhà xuất bản Thời Mới, Võ Phiến được mọi người ghi nhận là có công phát hiện và/hoặc giới thiệu nhiều cây bút trẻ và tài hoa tại Miền Nam lúc ấy như Nguyễn Xuân Hoàng, Thế Uyên, Y Uyên, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Đỗ Tiến Đức, Nguyễn Đức Sơn...

Về sáng tác, từ 1956 đến 1975, ở Việt Nam, ông xuất bản hơn hai mươi tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm truyện dài, truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu luận và dịch thuật (tất cả các tác phẩm dịch thuật đều ký dưới bút hiệu Tràng Thiên).

Ngày 22 tháng 4.1975, tức tám ngày trước khi Sài Gòn bị sụp đổ, Võ Phiến cùng vợ và người con út rời Việt Nam, di tản qua Mỹ...”(ngưng trích)

Thử suy nghĩ xem: có phải nhà nước bây giờ cấm sử dụng tên cụ Võ Phiến, mà ép phaỉ xài tên Tràng Thiên, chỉ vì cụ thắng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1960 của VNCH?

Và có phải, cũng vì cụ Võ Phiến nhanh chân, chạy kịp sang Mỹ năm 1975?

Tại sao Hà Nội thù dai, nhớ kỹ với những mộts ố bút hiệu như thế, trong khi họ đã là một phần lịch sử, và sách của họ chắc chắn sẽ được lưu giữ và nghiên cứu nhiều trăm năm sau nữa?

Theo báo quốc nội, trên địa bàn huyện Đông Sơn của tỉnh Thanh Hóa, tỉnh cực Bắc của miền Trung, có một con sông được đào vào thời Hậu Lê, được dân địa phương gọi là sông Vua. Sông này đã tồn tại trên 3 thế kỷ, nhưng chỉ trong vòng hơn một thập niên qua, khi nghề xẻ đá bắt đầu manh nha tại địa phương vào năm1989, sông này đã bị huỷ diệt hoàn toàn.
Theo báo quốc nội, thời gian đây, loại hình chợ cóc, chợ "tự phát" ngày càng phát triển tràn lan ở các quận vùng ven và ngoại thành. Hiện trạng này đã ảnh hưởng lớn đến việc buôn bán của các tiểu thương ở các khu chợ chính, do khách bỏ chợ ra mua hàng ở các chợ cóc ven đường. Về giao thông, các chợ cóc này làm cho những tuyến đường huyết mạch của thành phố Sài Gòn vừa mới mở rộng giờ bỗng hẹp lại, và tình trạng an toàn giao thông cũng lộn xộn, gây nạn kẹt xe kéo dài hàng giờ.
Cuối năm, Sài Gòn tràn ngập những cơn gió lạnh. Cũng vào những ngày này, trên đường phố, có những phụ nữ dáng dấp quê mùa ăn mặc phong phanh, đẩy xe mua bán ve chai hoặc gánh hàng rong hòa vào dòng người xe trên phố. Vì hoàn cảnh, rất nhiều người trong số họ năm nay đành chấp nhận ăn Tết xa nhà.
Theo báo quốc nội, trong những tháng cuối năm 2005, tại các xã ven biển thuộc một số tỉnh miền Trung, những trận bão liên tiếp đã gây sạt lở các khu cư dân. Nhiều nơi, cư dân phải di dời khẩn cấp để tránh hiểm họa do triều cường gây ra. Tại tỉnh Quảng Nam, sau cơn bão số 8 vào tháng 11/2005, nhiều xóm làng chài tan hoang, các gia đình ngư dân sống trong cảnh khốn cùng.
Theo báo quốc nội, tại nhiều làng ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi, cứ đến mùa mưa lũ, nước dâng cao, chia cắt, cô lập thôn làng với thị trấn của huyện. Hệ thống giao thông và phương tiện di chuyển của dân các làng này là những con đò nhỏ qua sông. Vào những ngày mưa lớn, đò không vượt sông được, nguồn lương thực đã cạn, nhiều gia đình phải nhịn đói. Trong tình cảnh như thế, dân làng ước mong có chiếc cầu bắc qua sông.
Theo báo quốc nội, trong ba tháng qua, nhiều đường dây số đề trên địa bàn thành phố Sài Gòn đã bị phát giác, điều này cho thấy nạn số đề vẫn tiếp tục tồn tại, làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn cùng, nợ nần vì chơi số đề và thua đậm trong nhiều ngày. Trong loại hình cờ bạc này, chỉ có trùm các đường số đề là thu lời lớn.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, trên địa bàn thành phố Sài Gòn, cứ vào dịp cuối năm, tình trạng xe dù, bến cóc lại hoạt động rầm rộ. Các xe đò không thuộc hệ thống quản lý của các bến xe chính thức, đã lập thành bến "di động" ở ngay trước cổng Bến xe miền Đông, Bến xe miền Tây để chặn đón khách. Và trên lộ trình, nhiều hành khách đi trên những chuyến xe dù đã bị sang xe, trả thêm tiền, bị thả xuống giữa đường mà không biết khiếu nại với ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.