Hôm nay,  

Đọc Sách Tràng Thiên

24/09/201300:00:00(Xem: 9054)
Thể loại văn tùy bút được cụ Nguyễn Hiến Lê ca ngợ như cuộc trò chuyện thanh nhã, theo lời nhắc lại của nhà phê bình Quang Khuê trên báo Tuổi Trẻ. Và đặc biệt, nhìn lại bối cảnh này, có vẻ như trước giờ chúng ta đã lâu không còn trò chuyện thanh nhã nữa, khi nhạc đỏ hét bên tai và khi những đợt đốt sách của nền văn hóa cũ tại Miền Nam vẫn còn mùi giấy cháy...

Bài viết tưạ đề “Một cuộc trò chuyện thanh nhã” của nhà phê bình Quang Khuê có những dòng chữ đầu để dẫn:

“Trong lời tựa viết cho cuốn Quê hương tôi (Nhã Nam & NXB Thời Đại - 2012), Nguyễn Hiến Lê có nhận xét về thể loại tùy bút: “Nó rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy, tưởng là dễ viết mà thực ra rất khó; phải có giọng thân mật, hấp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những người bạn đồng điệu lúc ngồi bên giàn hoa hay một ấm trà, lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị”.

Với độc giả Việt Nam, sau bấy nhiêu năm, chúng ta hẳn cũng không cần gì hơn ở tác phẩm “một câu chuyện thanh nhã” như vậy. Đọc tùy bút là nhẩn nha trò chuyện, là thưởng thức một cái tôi thầm kín trong từng nếp nghĩ, nếp nhìn, là quan sát mọi khía cạnh của sự vật ngẫu nhiên một cách tinh tế.

Tràng Thiên là một trong những cây bút bậc nhất miền Nam về thể loại tùy bút. Ông được Nguyễn Hiến Lê đánh giá là “sâu sắc như Nguyễn Tuân mà tự nhiên hơn, dí dỏm hơn, đề tài phong phú hơn, đa dạng hơn” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - NXB Văn Học - 2006).

Năm 2012, cuốn tạp bút Quê hương tôi được in dường như đã giúp độc giả tìm lại được những khía cạnh mất mát trong văn hóa truyền thống dân tộc. Từng lời ăn tiếng nói, mỗi phong tục tập quán, đến những suy nghĩ của người Việt được đong đếm, phân tách rõ ràng.

Sau hơn một năm, tập Tạp văn Tràng Thiên được xuất bản (Nhã Nam & NXB Thời Đại) bao gồm 20 bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau như tùy bút, phê bình, đối thoại, lời tựa sách, phỏng vấn được thực hiện từ những năm 1960 đến năm 2000. So với cuốn Quê hương tôi chủ yếu nói về khía cạnh văn hóa, xã hội Việt Nam thì tập Tạp văn này có nội dung đa dạng hơn...”(ngưng trích)

Tràng Thiên, Tràng Thiên... Đó là một thời thơ ấu của mình, khi mới cầm sách lên để đọc, và say mê. Những cái tên lúc đó đã đi vào tuổi thơ của mình là Tràng Thiên, Sơn Nam, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nhã Ca, Túy Hồng... Nhưng Tràng Thiên là ai? Đó là bút hiệu khác của Võ Phiến.

Tại sao chính phủ vẫn cấm sử dụng bút hiệu Võ Phiến? Và chỉ cho sử dụng duy bút hiệu Tràng Thiên? Và tại sao từ sách tới báo tại nơi “đất nước ngàn lần dân chủ hơn thế giới tư bản” vẫn còn cấm nhắc tên Võ Phiến? Có phải hai chữ “Võ” và “Phiến” mang sức mạnh công phá hơn bom đạn thời trước 1975?

Phải nói rằng, mình không thâý ai viết tùy bút hay hơn Võ Phiến. Tuy cụ Nguyễn Hiến Lê nói rằng văn tùy bút Tràng Thiên (tức Võ Phiến) hay hơn Nguyễn Tuân, thì theo thiển ý, cũng là quá lời... lẽ ra nên nói, văn hai cụ Nguyễn Tuân và Võ Phiến mỗi người mỗi vẻ đẹp riêng – nhưng chắc chắn là sâu sắc thì cụ Võ Phiến (tức cụ Tràng Thiên) sâu sắc hơn nhiều.

Nhưng mình biết rằng giới trẻ chẳng có mấy ai biết Tràng Thiên là bút hiệu ít xài của cụ Võ Phiến. Nơi đây, mình trích dẫn từ giáo sư Nguyễn Hưng Quốc trong chương “Vài ghi chú về tiểu sử” từ cuốn “Võ Phiến – có thể đọc ở Tiền Vệ, http://tienve.org/ -- sách được nhà Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1996, về cuộc đời nah2 văn Võ Phiến:

“...Trong lãnh vực văn hoá, ông là một thành viên trong Hội đồng văn hoá giáo dục Miền Nam từ 1970 đến 1974; giáo sư văn chương tại trường Đại học Hoà Hảo tại Long Xuyên và Đại học Phương Nam tại Sài Gòn từ 1973 đến 1975.

...Trên Bách Khoa, Võ Phiến, ngoài phần sáng tác và biên khảo, còn đảm nhiệm luôn cả các mục điểm sách, thời sự văn học nghệ thuật và thỉnh thoảng, phần dịch thuật dưới bút hiệu Tràng Thiên và Thu Thuỷ (Tràng Thiên, thoạt đầu là bút danh chung của Ban biên tập Bách Khoa, sau, từ khoảng 1964, 65 giao hẳn cho Võ Phiến). Năm 1960, ông được tặng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc với cuốn Mưa đêm cuối năm. Từ năm 1961 về sau, ông được mời vào Hội đồng giám khảo của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc. Năm 1962, ông lập nhà xuất bản Thời Mới để trước hết, tự in sách mình và sách của các cây bút mới và sau đó, giới thiệu các trào lưu, các phương hướng sáng tác hiện đại. Trên tờ Bách Khoa cũng như với nhà xuất bản Thời Mới, Võ Phiến được mọi người ghi nhận là có công phát hiện và/hoặc giới thiệu nhiều cây bút trẻ và tài hoa tại Miền Nam lúc ấy như Nguyễn Xuân Hoàng, Thế Uyên, Y Uyên, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Đỗ Tiến Đức, Nguyễn Đức Sơn...

Về sáng tác, từ 1956 đến 1975, ở Việt Nam, ông xuất bản hơn hai mươi tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm truyện dài, truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu luận và dịch thuật (tất cả các tác phẩm dịch thuật đều ký dưới bút hiệu Tràng Thiên).

Ngày 22 tháng 4.1975, tức tám ngày trước khi Sài Gòn bị sụp đổ, Võ Phiến cùng vợ và người con út rời Việt Nam, di tản qua Mỹ...”(ngưng trích)

Thử suy nghĩ xem: có phải nhà nước bây giờ cấm sử dụng tên cụ Võ Phiến, mà ép phaỉ xài tên Tràng Thiên, chỉ vì cụ thắng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1960 của VNCH?

Và có phải, cũng vì cụ Võ Phiến nhanh chân, chạy kịp sang Mỹ năm 1975?

Tại sao Hà Nội thù dai, nhớ kỹ với những mộts ố bút hiệu như thế, trong khi họ đã là một phần lịch sử, và sách của họ chắc chắn sẽ được lưu giữ và nghiên cứu nhiều trăm năm sau nữa?

Theo báo quốc nội, tại thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển nữ sinh viên giúp việc nhà đang nổi lên, chiếm đến 20% số việc làm thời vụ như tiếp thị, dạy kèm, bán hàng, phát bướm... Sinh viên cũng nhanh chóng thích ứng với cái nghề vốn không được xem trọng. Báo Sài Gòn Tiếp Thị ghi nhận về tình cảnh mưu sinh của nữ sinh viên giúp việc nhà như sau.
Theo báo Thanh Niên, trong khu vực huyện đảo Cát Hải thuộc vùng biển Hải Phòng, có một ngôi làng nghèo đến kỳ lạ :không có chợ; một nhà mổ lợn, cả làng đến ăn. Cửa các nhà không bao giờ khoá vì không có một mống trộm cắp. Để vào được làng mà áo quần khô ráo, phải "thoát y" lội qua quãng ngập. Báo TN ghi chuyện lạ về làng này như sau.
Theo báo quốc nội, vào thượng tuần tháng 6 vưà qua, trên địa bàn quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, đã xảy ra một vụ công nhân đập phá trụ sở 1 công ty sản xuất giày. Theo các nhân chứng, vụ việc xuất phát từ khu vực nhà ăn của công ty này. Các công nhân đồng loạt bỏ ăn, hất đổ đồ ăn xuống đất và một số người bắt đầu đập phá. Vụ việc gây náo loạn cả khu vực
Theo báo quốc nội, tại tỉnh Nam Định, có 1 ngôi làng mà 80% dân số biết sử dụng ít nhất một loại nhạc cụ, mỗi đứa trẻ đều là một nhạc công. Trong làng có nhiều "nghệ sĩ" không qua trường lớp nào, nhưng lại rất sành âm nhạc. Nhiều gia đình vì quá mê âm nhạc đã đem bán cả ruộng đất, để có tiền mua đàn. Báo Thiếu Niên Tiền Phong viết về làng này như sau.
Tại vùng sông nước của miền Tây Nam phần, do hình thái địa lý và nhu cầu thương mại, nhiều ngôi chợ nổi trên sông đã hình thành. Một trong những chợ luôn tấp nập người buôn bán là chợ nổi Cái Răng gần thành phố Cần Thơ.Theo các nhà nghiên cứu nhân văn, chợ nổi, ngay cái tên cũng đã thể hiện sự mộc mạc, chân chất của con người phương Nam. Báo QĐNN viết về chợ nổi Cái Răng như sau.
Theo báo quốc nội, Quảng Nam được biết đến như là một trong những "cái nôi của nghệ thuật tuồng". Hành trình Trò bội - Hát tuồng - Nghệ thuật tuồng là một quá trình chiết lọc, tích lũy trải qua mấy trăm năm. Thế nhưng hiện nay, những tinh hoa ấy dường như đang mai một. Báo SGGP viết như sau. Hiện nay chỉ có một gánh hát tuồng duy nhất sống được nhờ biểu diễn là gánh hát Sông Thu (huyện Duy Xuyên).
Tại Sài Gòn, quán nhậu, bida không còn là chốn dành riêng cho nam giới và việc "cắm quán, ngồi đồng" không chỉ là "đặc quyền" của phái mạnh. Hiện nay, khách cũng đã quen mắt với hình ảnh các cô gái thường trực ở những quán cà phê hàng giờ liền. Những lý do của họ cũng "muôn màu muôn vẻ". Báo Phụ Nữ Chủ Nhật viết như sau.
Chỉ còn 1 tháng nữa là đến mùa thi tuyển sinh viên vào các trường đại học, cao đẳng trong nước. Vào những ngày này, tại nhiều khu vực gần các trường Đại học, ký túc xá, khu nhà tập thể của nhân viên ngành giáo dục tại Hà Nội, dịch vụ bán tài liệu thu nhỏ để thí sinh mang lén vào phòng thi mà giới học sinh gọi là "phao" đã hoạt động mạnh, khách hàng tấp nập.
Trong các món ăn đặc biệt của ba miền Việt Nam, đã bao đời, hầu như ít có người hiểu rõ ngọn nguồn của mắm kho, chỉ biết đó là món ăn gia đình của người nông dân miền Nam nơi xóm ấp đồng quê. Câu ca xưa khắc họa sự tần tảo, chịu khó trong lối sống đạm bạc, dân dã của người nông dân vùng sông nước: "Một đời bông súng mắm kho, ngày đêm lam lũ nỗi lo bưng biền".
Theo báo Tuổi Trẻ, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế, hàng ngàn gia đình cư dân vùng đầm Cầu Hai và ven biển đang nơm nớp lo âu cho sự sống của mình khi con đường vào ra biển, nơi lấy nước biển và cũng là nơi thoát lũ cho cả vùng đất của hai huyện Phú Lộc và Phú Vang, chẳng bao lâu nữa bị đóng chặt. Báo Tuổi Trẻ viết như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.