Hôm nay,  

Đọc Sách Tràng Thiên

24/09/201300:00:00(Xem: 8960)
Thể loại văn tùy bút được cụ Nguyễn Hiến Lê ca ngợ như cuộc trò chuyện thanh nhã, theo lời nhắc lại của nhà phê bình Quang Khuê trên báo Tuổi Trẻ. Và đặc biệt, nhìn lại bối cảnh này, có vẻ như trước giờ chúng ta đã lâu không còn trò chuyện thanh nhã nữa, khi nhạc đỏ hét bên tai và khi những đợt đốt sách của nền văn hóa cũ tại Miền Nam vẫn còn mùi giấy cháy...

Bài viết tưạ đề “Một cuộc trò chuyện thanh nhã” của nhà phê bình Quang Khuê có những dòng chữ đầu để dẫn:

“Trong lời tựa viết cho cuốn Quê hương tôi (Nhã Nam & NXB Thời Đại - 2012), Nguyễn Hiến Lê có nhận xét về thể loại tùy bút: “Nó rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy, tưởng là dễ viết mà thực ra rất khó; phải có giọng thân mật, hấp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những người bạn đồng điệu lúc ngồi bên giàn hoa hay một ấm trà, lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị”.

Với độc giả Việt Nam, sau bấy nhiêu năm, chúng ta hẳn cũng không cần gì hơn ở tác phẩm “một câu chuyện thanh nhã” như vậy. Đọc tùy bút là nhẩn nha trò chuyện, là thưởng thức một cái tôi thầm kín trong từng nếp nghĩ, nếp nhìn, là quan sát mọi khía cạnh của sự vật ngẫu nhiên một cách tinh tế.

Tràng Thiên là một trong những cây bút bậc nhất miền Nam về thể loại tùy bút. Ông được Nguyễn Hiến Lê đánh giá là “sâu sắc như Nguyễn Tuân mà tự nhiên hơn, dí dỏm hơn, đề tài phong phú hơn, đa dạng hơn” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - NXB Văn Học - 2006).

Năm 2012, cuốn tạp bút Quê hương tôi được in dường như đã giúp độc giả tìm lại được những khía cạnh mất mát trong văn hóa truyền thống dân tộc. Từng lời ăn tiếng nói, mỗi phong tục tập quán, đến những suy nghĩ của người Việt được đong đếm, phân tách rõ ràng.

Sau hơn một năm, tập Tạp văn Tràng Thiên được xuất bản (Nhã Nam & NXB Thời Đại) bao gồm 20 bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau như tùy bút, phê bình, đối thoại, lời tựa sách, phỏng vấn được thực hiện từ những năm 1960 đến năm 2000. So với cuốn Quê hương tôi chủ yếu nói về khía cạnh văn hóa, xã hội Việt Nam thì tập Tạp văn này có nội dung đa dạng hơn...”(ngưng trích)

Tràng Thiên, Tràng Thiên... Đó là một thời thơ ấu của mình, khi mới cầm sách lên để đọc, và say mê. Những cái tên lúc đó đã đi vào tuổi thơ của mình là Tràng Thiên, Sơn Nam, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nhã Ca, Túy Hồng... Nhưng Tràng Thiên là ai? Đó là bút hiệu khác của Võ Phiến.

Tại sao chính phủ vẫn cấm sử dụng bút hiệu Võ Phiến? Và chỉ cho sử dụng duy bút hiệu Tràng Thiên? Và tại sao từ sách tới báo tại nơi “đất nước ngàn lần dân chủ hơn thế giới tư bản” vẫn còn cấm nhắc tên Võ Phiến? Có phải hai chữ “Võ” và “Phiến” mang sức mạnh công phá hơn bom đạn thời trước 1975?

Phải nói rằng, mình không thâý ai viết tùy bút hay hơn Võ Phiến. Tuy cụ Nguyễn Hiến Lê nói rằng văn tùy bút Tràng Thiên (tức Võ Phiến) hay hơn Nguyễn Tuân, thì theo thiển ý, cũng là quá lời... lẽ ra nên nói, văn hai cụ Nguyễn Tuân và Võ Phiến mỗi người mỗi vẻ đẹp riêng – nhưng chắc chắn là sâu sắc thì cụ Võ Phiến (tức cụ Tràng Thiên) sâu sắc hơn nhiều.

Nhưng mình biết rằng giới trẻ chẳng có mấy ai biết Tràng Thiên là bút hiệu ít xài của cụ Võ Phiến. Nơi đây, mình trích dẫn từ giáo sư Nguyễn Hưng Quốc trong chương “Vài ghi chú về tiểu sử” từ cuốn “Võ Phiến – có thể đọc ở Tiền Vệ, http://tienve.org/ -- sách được nhà Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1996, về cuộc đời nah2 văn Võ Phiến:

“...Trong lãnh vực văn hoá, ông là một thành viên trong Hội đồng văn hoá giáo dục Miền Nam từ 1970 đến 1974; giáo sư văn chương tại trường Đại học Hoà Hảo tại Long Xuyên và Đại học Phương Nam tại Sài Gòn từ 1973 đến 1975.

...Trên Bách Khoa, Võ Phiến, ngoài phần sáng tác và biên khảo, còn đảm nhiệm luôn cả các mục điểm sách, thời sự văn học nghệ thuật và thỉnh thoảng, phần dịch thuật dưới bút hiệu Tràng Thiên và Thu Thuỷ (Tràng Thiên, thoạt đầu là bút danh chung của Ban biên tập Bách Khoa, sau, từ khoảng 1964, 65 giao hẳn cho Võ Phiến). Năm 1960, ông được tặng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc với cuốn Mưa đêm cuối năm. Từ năm 1961 về sau, ông được mời vào Hội đồng giám khảo của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc. Năm 1962, ông lập nhà xuất bản Thời Mới để trước hết, tự in sách mình và sách của các cây bút mới và sau đó, giới thiệu các trào lưu, các phương hướng sáng tác hiện đại. Trên tờ Bách Khoa cũng như với nhà xuất bản Thời Mới, Võ Phiến được mọi người ghi nhận là có công phát hiện và/hoặc giới thiệu nhiều cây bút trẻ và tài hoa tại Miền Nam lúc ấy như Nguyễn Xuân Hoàng, Thế Uyên, Y Uyên, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Đỗ Tiến Đức, Nguyễn Đức Sơn...

Về sáng tác, từ 1956 đến 1975, ở Việt Nam, ông xuất bản hơn hai mươi tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm truyện dài, truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu luận và dịch thuật (tất cả các tác phẩm dịch thuật đều ký dưới bút hiệu Tràng Thiên).

Ngày 22 tháng 4.1975, tức tám ngày trước khi Sài Gòn bị sụp đổ, Võ Phiến cùng vợ và người con út rời Việt Nam, di tản qua Mỹ...”(ngưng trích)

Thử suy nghĩ xem: có phải nhà nước bây giờ cấm sử dụng tên cụ Võ Phiến, mà ép phaỉ xài tên Tràng Thiên, chỉ vì cụ thắng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1960 của VNCH?

Và có phải, cũng vì cụ Võ Phiến nhanh chân, chạy kịp sang Mỹ năm 1975?

Tại sao Hà Nội thù dai, nhớ kỹ với những mộts ố bút hiệu như thế, trong khi họ đã là một phần lịch sử, và sách của họ chắc chắn sẽ được lưu giữ và nghiên cứu nhiều trăm năm sau nữa?

Tại miền Tây, ở vùng Đồng Tháp Mười, hoạt động săn bắt chuột diễn ra quanh năm nhưng tập trung nhất là vào đầu mùa lũ. Khi nước tràn vào mặt ruộng, chuột đồng rút lên gò cao, sống nấp trong lau sậy um tùm hoặc làm tổ trên những thân cây tràm, cây gáo. Người ta gọi hiện tượng này là nước lên, chuột lên. Báo SGGP viết như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, hệ thống đường sá ở ngoại thành Sài Gòn đang trong tình trạng hư hại nặng. Nhiều con đường đầy những hố rất sâu, những hòn đá nhô lên giưã hố. Mỗi khi di chuyển trên các đoạn đường này, xe tải, xe gắn máy, trồi lên sụp xuống, lúc ngả sang trái, lúc nghiêng sang phải, lưu thông rất chật vật bởi những vũng sâu bùn sình nhầy nhụa khắp mặt đường.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, tại nội thành SG có những vũ trường đặc biệt: không gái nhảy, không rượu mạnh, không âm nhạc gầm rú. Đó là những vũ trường chỉ âm thầm hoạt động vào lúc 2-3 giờ chiều hoặc 9-10 giờ sáng. Khách là những quý bà cô đơn đến đây để giải sầu và tâm sự với bạn nhảy là những chàng trai khéo chiều. Tin Nhanh VN ghi nhận như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, đường Lê Thánh Tôn, quận 1, có rất nhiều hàng quán, chính yếu bán hàng thủ công mỹ nghệ, vải, lụa... phục vụ du khách. Cũng trên con đường này có không dưới hai chục thợ sửa giày, nép mình dưới mái hiên, lùi sâu vào vỉa hè. Chỉ cần một cái bàn con con, hai chiếc ghế nhựa và một số đôi giày cũ cùng keo, kéo, kìm
Tại tỉnh Quảng Trị, có một ông có gần 100 người con của hơn 20 bà vợ, trong đó có 13 bà đang sống chung với ông và các con trong cùng 1 xóm nhà, những bà vợ khác sống tại nhiều nơi từ miền Trung đến miền Nam. Hơn một nửa số vợ của ông đều nằm trong thành phần chết chồng, chồng bỏ. Ông bày tỏ rằng mình chúa ghét những gã đàn ông "quất ngựa truy phong".
Theo ghi nhận của báo quốc nội, ngày nay, tại Sài Gòn và một số thành phố lớn của VN, không chỉ phụ nữ giải phẫu thẩm mỹ để làm đẹp mà đàn ông và cả một số bà lão tuổi lục tuần cũng khoái đi thẩm mỹ viện sửa tướng để "ăn nên làm ra", để gia đình sung túc, để giữ vận may phước lành cho con cháu... Báo Kinh Tế Đô Thị viết như sau.
Theo báo quốc nội, tại TPSG có một họa sĩ đã mở xưởng làm tranh từ cánh bướm. Hàng nghìn cánh bướm ẩn hiện "dệt" nên những bức tranh hoàn chỉnh với nhiều đề tài như phố, làng quê Việt Nam. Tranh làm từ cánh bướm của họa sĩ này, được bày bán ở Diamond Plaza, TPSG, đang là mặt hàng hút khách, đặc biệt là khách chuộng "đồ độc". Tin Nhanh VN viết như sau.
Thành phố Sài Gòn về đêm có nhiều con phố không ngủ với những quán khuya đủ loại: quán trong các ngõ hẻm, quán khuya di động với những xe hủ tiếu bán rong, quán khuya bán cho những thực khách khá giả. Báo Sài Gòn Tiếp Thị viết về các quán khuya ở Sài Gòn như sau.
Trên con đường thiên lý Bắc- Nam, ai qua Đồng Hới thị xã tỉnh lỵ của Quảng Bình vừa trở thành thành phố sẽ gặp "Quảng Bình quan" và Lũy Thầy nằm bên bờ Nhật Lệ. Tại tỉnh này, tỉnh của những di tích- danh thắng nổi tiếng, đã có nhiều di tích bị bỏ quên. Báo SGGP viết như sau.
Theo các nhà nghiên cứu, kiến trúc cổ Sài Gòn trước kia đa phần là những công trình kiến trúc mang phong cách bản địa hoặc mang nét truyền thống Hoa, Khmer... Đến khi người Pháp đến, họ thiết kế đô thị Sài Gòn theo kiểu mẫu đô thị Pháp. Những ngôi nhà và phố xá bản địa, truyền thống biến mất dần hoặc lùi ra ngoại ô và cho đến nay thì gần như không còn
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.