Hôm nay,  

Khi Làm Sai Chữ

30/09/201300:00:00(Xem: 7138)
Hãy hình dung có những cái sai có thể xảy ra. Và những cái sai, nguy hiểm là khi truyền sang nhiều thế hệ sau, có thể sẽ bị chấp nhận như là một thói quen, một tiền lệ, thậm chí như một phương ngữ...

Thí dụ, như chữ Thái Bình, chúng ta có khi thấy viết là Thới Bình. Không phải huyền hoặc đâu. Có một huyện tên là Bình Thới -- chứ không phải Bình Thái -- ở tỉnh Cà Mau.

Không hiểu nguyên khởi là sai ra sao, thời nào, nhưng hẳn là, thôi thì lỡ rồi, dùng luôn cho quen.

Hay thí dụ, xin phép để xin lỗi quý tiên hiền: giả như tên cụ Phan Châu Trinh, có thể nào chúng ta sẽ viết nhầm thành cụ Phang Châu Trinh (chữ Phan có g)? Hay viết nhầm thành cụ Phan Châu Chinh? Nếu sai này không sửa, sang nhiều đời sau, người sau có thể nghĩ rằng đó là “một dạng phiên âm chữ Nôm cổ phải viết như thế”... Thế là kéo nhau, sai dính chùm.

Báo Tuổi Trẻ kể về chuyện “10 năm chép sai chữ của Phan Châu Trinh.”

Đó là ở đền thờ Tăng Bạt Hổ ở huyện Hoài Ân, Bình Định. Nơi này vừa làm lễ đón nhận bằng di tích quốc gia vào ngày 17-9 với rất nhiều quan chức từ trung ương đến địa phương, người dân, học sinh đến dự.

Nhà yêu nước Tăng Bạt Hổ tất nhiên là tuyệt vời rồi. Thế nhưng, báo Tuổi Trẻ kể, tại đền thờ có đôi câu liễn chữ Hán khảm xà cừ rất trang trọng nhưng bị sai nhiều chữ nghiêm trọng, vì khi cụ Tăng Bạt Hổ (1858-1906) từ trần, cụ Phan Châu Trinh (1872-1926) đã làm câu đối này để điếu.

Bài báo viết:


“Nguyên văn câu đối từng được Huỳnh Thúc Kháng chép trong tập Thi tù tùng thoại (xuất bản năm 1939), phiên âm như sau:

Tạp dư niên sơn hải gian quan, nhân giai bi kỳ ngộ, thiên nhược giám kỳ thành, tam đảo minh tiên, tráng chí cẩn năng thông Thượng quốc;

Trấp thế kỷ phong vân biến huyễn, nhân giai tranh dĩ trí, quân dục cạnh dĩ lực, cửu thu quy kiếm, hùng hồn du tự luyến Thần kinh.

(Huỳnh Thúc Kháng dịch: Ba mươi năm lẻ núi biển trải nhọc nhằn, ai cũng thương cho cảnh ngộ, trời hẳn thấy nhiệt thành, quất ngựa thẳng non thần, tráng chí mới thông miền Thượng quốc; Hai chục kỷ đời, gió mây chiều biến đổi, người đều đua lấy trí, ông muốn đấu bằng sức, quay gươm về nước cũ, hồn thiêng còn mến đất Thần kinh).

Năm 2003, đôi câu đối này được chọn để khắc khảm xà cừ thành đôi liễn trang trọng treo tại đền thờ Tăng Bạt Hổ ở Hoài Ân. Theo thứ tự, vế đầu của câu đối khắc sai tám chữ, theo thứ tự từ trên xuống là các chữ: tạp, quan, giai, thành, minh, tiên, cẩn, thượng; vế sau sai chín chữ: trấp, biến, huyễn, giai, dục, thu, do, luyến, kinh. Tổng cộng cả hai vế sai tới 17 chữ trong tổng số 56 chữ...”(ngưng trích)

Sai chữ, và rồi sai nghĩa... Báo Tuổi Trẻ có chụp hình đền thờ và đôi câu này...

Lạ quá, cẩn thận giùm chứ. Cũng cần phải xem lại coi chừng ghi nhầm Tăng Bạt Hổ thành Tăn Bạc Hổ...

Phải coi chừng chớ... (Chữ “chớ” chứ không phảI chữ “chứ”) -- Trời ạ, chữ nào là đúng nhỉ?

Những chuyện báo oán trong cổ tích Việt Nam rất là nhiều. Phần lớn là chuyện kể từ đời này qua đời kia, nhằm răn dạy con chaú tránh gây nghiệp sát sanh. Vì cái gì cũng có nhân, tất có quả. Làm lành được quả lành, làm dữ tất gặp họa.
Nên chọn hoa gì để làm quốc hoa cho Việt Nam?
Xin lỗi, xin lỗi... Đó là lời xin lỗi liên tục đưa ra từ các bác sĩ và bệnh viện khi bệnh nhân bị chẩn đoán sai, chữa trị sai... và đôi khi chết người.
Một thời kẻ sĩ được ưa chuộng -- những thời từ rất xa xưa, cho tới cả gần đây. Tuy rằng, kẻ sĩ luôn luôn là người có vấn đề với nhà vua, vì kẻ mù chữ thì không bao giờ dám đặt vấn đề với vua, vì vua là thay mặt cho ý trời.
Tôn giáo một thời đã ra các luật định, buộc tín đồ phải theo. Trong đó, có luật cấm ngoaạ tình, hiểu là cấms ắc dục với người không phải vợ chồng.
Việt Nam có những ngôi chùa nào độc đáo? Dĩ nhiên, rất nhiều.
Hoàn cảnh học trò Việt Nam luôn luôn bị xô đẩy bởi những thế lực cha chú: Bộ Giáo Dục & Đào Tạo luôn luôn in ra những cuốn sách có cờ lạ, và bây giờ có thêm con giáp lạ; trong khi các quan huyện, quan xã nhiều nơi lại thẳng tay thu phí các em trong đủ thứ chuyện...
Chỉ vì tính sai một lá bài trên chiếu bạc, người ta có thể sẽ trắng tay, rỗng túi dễ dàng.
Những pho tượng Phật nào bí ẩn tại Việt Nam? Bí ẩn ra sao? Và tại sao nghệ sĩ điêu khắc cổ thời đã làm như thế?
Người làm quan thời xưa là thi tuyển, chứng tỏ tàì năng mới lên chức quan được. Muốn làm quan văn thì ra trường thi, mài mực để viết ra chữ thánh hiền và cũng bày tỏ tài trí của mình. Muốn làm quan võ thì ra thi võ đình, hay trong thời loạn thì tòng chinh, ra sức giữa hòn tên mũi đạn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.