Hôm nay,  

Kể Chuyện Thiền Sư

14/03/201400:00:00(Xem: 6782)
Trí tuệ cao hơn vương quyền? Đúng như thế, vì trí tuệ sẽ dẫn chúng ta tới nơi giải thoát, nhưng vương quyền nếu thiếu vắng trí tuệ sẽ buộc chúng ta vào mãi cõi tham sân si.

Hôm nay mới đọc một bài của Thiền sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh trên mạng Thư Viện Hoa Sen, xin trích lại như sau:

“THIỀN SƯ VÀ BẬC VƯƠNG GIẢ

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Đức vua Milinda quyền uy hiển hách, vang bóng một thời, khi đối thoại với tỳ-khưu Nagase?a, nhà vua đã tự tước bỏ cái lốt “vương giả” để xin được hầu chuyện như một bậc “trí giả”.

Ở Việt Nam ta vào thời Lý-Trần, các nhà vua đến thăm các vị thiền sư thường lấy tư cách của một người đệ tử, lại còn tâm đắc hơn là, trong lúc đàm thoại, các vị thiền sư của ta thường gửi gắm “thiền ý” rất văn hoa và thi vị. Và nếu đức vua là bậc căn cơ thượng trí, có khả năng vén lớp sương mù ngôn ngữ khái niệm, ông ta sẽ “tao ngộ” được cái “chân diện mục” của mình đã từ ngàn xưa lưu lạc.

Bây giờ, chúng ta hãy “trước đèn lần giở cảo thơm”, đọc lại cuộc đàm đạo giữa Thiền sư Thiền Lão và vua Lý Thái Tông thử xem.

Vào khoảng niên hiệu Thống Thụy (1034-1038), vua Lý Thái Tông nghe danh Thiền Lão là bậc cao tăng đắc đạo, môn sinh theo học hàng ngàn, bèn xa giá lên núi Thiên Phúc, Tiên Du bái yết.

Sau khi được diện kiến, vua thấy vị sư già có dung mạo, cốt cách như tòng như hạc, tuyết sương đã cỗi, lễ độ cung tay thưa rằng:

- Lão thiền sư ở núi này bao lâu rồi?

Khẽ đưa mắt ngước nhìn bậc vương giả: Oai nghi đường bệ, nhưng khí sắc trầm hùng, bình hòa.

Sư bèn thử “sự thâm chứng thiền học” của nhà vua, nên đáp:

“Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu”

(Chỉ biết tháng ngày này
Xuân thu thuở trước ai hay làm gì!)

Nhà vua ngơ ngác. Ông sư già này lẩm cẩm rồi, hỏi một đường, đáp một nẻo. Nhưng dẫu sao, bậc vương giả vốn hay thơ, nghe thiền sư đọc thơ thì cảm thấy thú vị, chẳng chấp gì, hỏi tiếp:

- Vậy thì hằng ngày, Lão thiền sư làm việc gì?

Thiền sư nhìn vua, rồi nhìn hoa cảnh viên môn, tủm tỉm cười, bắt đầu hai tứ thơ xuất hiện, dường như chưa đi qua sự khúc xạ của trí năng:

“Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân”

(Trúc biếc, hoa vàng-không ngoại cảnh
Trăng trong, mây trắng-hiện toàn chân).

Thật tiếc cho tâm huyết của vị thiền sư già. Bậc vương giả kia đã không hiểu, không thấy “thiền sư có ý chỉ gì”, hỏi, thì Thiền Lão không muốn nhiều lời.


Và, thiền sư không muốn nhiều lời là đúng. Nhiều lời là nhiều ý, nhiều ý là chất chồng khái niệm, là “đầu thượng trước đầu”, là “tuyết thượng gia sương”!

Kẻ đạt ngộ, bất cứ dòng phái nào, quốc độ nào, màu da chủng tộc nào, luôn sống trong giây khắc hiện tại. Chỉ có hiện tại là “thực”. Chỉ có cái hiện tại: “Ở đây và bây giờ”- đang chảy trôi, đang dịch hóa mới chính là cái “pháp hiện tiền” cho ta “hiện quán” để thâm ngộ duyên sinh, vô ngã tính:

"Đản tri kim nhật nguyệt.
Thùy thức cựu xuân thu".


“Chỉ biết tháng ngày này, giây khắc này”. Không truy tầm quá khứ, không vọng móng tương lai, xuân thu thuở trước ai hay làm gì! Còn gì rõ hơn thế nữa? Tuy đã quá rõ nhưng bậc vương giả của chúng ta vẫn cứ loay hoay, lăng xăng, muốn hỏi hằng ngày thiền sư làm việc gì! Sao phải làm việc gì! Có “cái gì” nữa sao? Cứ sống trong giây khắc hiện tiền thì “làm gì” hay “không làm gì” đều là đạo cả, đều sống trong thiền, thở trong thiền, đi đứng trong thiền cả...

"Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân".

Hoa vàng kia, trúc biếc kia đâu phải là cái ở bên ngoài tâm. Thực tại, “yếu tính của thực tại” không ở trong, không ở ngoài, chẳng có chủ thể, chẳng có khách thể. Trăng trong kia, mây trắng kia... tất cả chúng đều hiện ra như chân, như thực, đại mỹ, châu toàn... Kẻ mê thì tầm cầu Đông Tây Nam Bắc, những cảnh giới phi thực; kẻ đạt ngộ họ sống với các pháp đang là, với mọi hiện hữu tương quan muôn đời như thị...

Một thời, thiền sư và bậc vương giả của chúng ta là thế ấy. Tuy ta không có được nhiều thông tin do sử liệu ít ỏi, nhưng chỉ cần một vài câu, một vài đoạn, ta có thể hình dung ra diện mạo văn học của một thời. Hãy thử tưởng tượng một ngàn đệ tử vây quanh, những cuộc đối thoại, nhàn đàm giữa thầy và trò, của người hỏi đạo, học đạo... đều hàm chứa văn, triết, thiền học. Chúng không chỉ cho ta thấy trình độ tri thức, kiến thức của họ mà còn toát lên nội lực tâm linh từ dòng thiền uyên áo; biết tiếp thu, chọn lọc, sáng tạo; biết giữ gìn và phát huy, tạo nên một bản sắc đặc trưng của Phật giáo Việt Nam ngay từ thời mới tự chủ, độc lập...

Ôi! Cao đẹp thay!
Minh Đức Triều Tâm Ảnh”

(Nguồn: http://thuvienhoasen.org/)

Cảm ơn một ngày tốt đẹp, với một bản văn hướng thượng.

Chuyện gì cũng vậy, cũng cần có một khuôn phép gọi là chuẩn mực, bấy giờ mới thấy hết cái đẹp, cái tinh vi. Nếu không có chuẩn mực, tất sẽ hỗn loạn, sẽ chỉ là tiếng ồn của người tâm thần.
Trong khi chúng ta đọc tràn ngập những tin hình sự hàng ngày ở Hà Nội, ở Sài Gòn, ở Cần Thơ... đời sống trở nên đầy những nỗi lo, những sợ hãi. Rồi may mắn, đôi khi gặp những bản tin làm dịu lòng mình xuống, khi niềm tin được khơi dậy về cái thiện bản nhiên trong lòng người.
Có những dòng chữ viết lên vách, và đời sau ca ngợi là thơ thần, bút thánh. Có những nét vẽ sau khi hoàn tất trên vách, lập tức trở thành bất tử.
Bạn hãy hình dung rằng khi một công nhân bị nợ lương, là bao nhiêu chuyện thảm họa dây chuyền sẽ xảy ra. Vậy mà đó lại là hiện thực đang diễn ra đối với hàng chục ngàn công nhân.
Tình yêu mang tới hạnh phúc cho đời người. Tình yêu là sự chia sẻ, là niềm vui, là chung bước để cặp tình nhân dìu nhau đi trên những năm tháng gian nan của đời người. Tình yêu như thế cũng là tránh nhiệm, là gánh vác một phần gánh nặng trăm năm cho nhau.
Cái đầu mình khá u tối, nên rất thường khi gặp những chữ viết tắt trên báo chí Việt Nam, nghĩ hoài cũng không ra nổi. Như thế, gặp các trưoòng hợp tối nghĩa, hay chữ ít gặp, thì đành chịu. Nghĩa là, mình nghĩ, chức năng truyền thông của báo chí chưa đạt nổi.
Mỗi người đều mang ơn một số thầy giáo, cô giáo nào đó. Từ bậc mẫu giáo, bậc tiểu học, bậc trung học và rồi đaị học... thế nào cũng có lúc chúng ta sơ xuất, vấp ngã và rồi được một thầy giaó hay cô giáo chìa tay ra giúp, đỡ lên và dìu chúng ta đi tiếp.
Quý thầy giáo và quý cô giáo, tức là ngành giáo dục, trên nguyên tắc là phải tuyệt vời trong sáng đạo đức. Lịch sử Việt Nam cũng đã từng có những thấy giáo tuyệt vời, như Thầy Chu Văn An, như Thầy Nguyễn Đình Chiểu...
Nghệ thuật là gì? Và làm vai MC để dẫn chương trình trong các buổi họp mặt, tiệc cưới... có cần tới nghệ thuật không? Và nếu thiếu nghệ thuật, các buổi đó có trở nên nhạt nhẽo hay không? Thậm chí, nếu không khéo, MC có thể làm mất vui cả một tiệc cưới hay không?
Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.