Hôm nay,  

Kể Chuyện Thiền Sư

14/03/201400:00:00(Xem: 7364)
Trí tuệ cao hơn vương quyền? Đúng như thế, vì trí tuệ sẽ dẫn chúng ta tới nơi giải thoát, nhưng vương quyền nếu thiếu vắng trí tuệ sẽ buộc chúng ta vào mãi cõi tham sân si.

Hôm nay mới đọc một bài của Thiền sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh trên mạng Thư Viện Hoa Sen, xin trích lại như sau:

“THIỀN SƯ VÀ BẬC VƯƠNG GIẢ

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Đức vua Milinda quyền uy hiển hách, vang bóng một thời, khi đối thoại với tỳ-khưu Nagase?a, nhà vua đã tự tước bỏ cái lốt “vương giả” để xin được hầu chuyện như một bậc “trí giả”.

Ở Việt Nam ta vào thời Lý-Trần, các nhà vua đến thăm các vị thiền sư thường lấy tư cách của một người đệ tử, lại còn tâm đắc hơn là, trong lúc đàm thoại, các vị thiền sư của ta thường gửi gắm “thiền ý” rất văn hoa và thi vị. Và nếu đức vua là bậc căn cơ thượng trí, có khả năng vén lớp sương mù ngôn ngữ khái niệm, ông ta sẽ “tao ngộ” được cái “chân diện mục” của mình đã từ ngàn xưa lưu lạc.

Bây giờ, chúng ta hãy “trước đèn lần giở cảo thơm”, đọc lại cuộc đàm đạo giữa Thiền sư Thiền Lão và vua Lý Thái Tông thử xem.

Vào khoảng niên hiệu Thống Thụy (1034-1038), vua Lý Thái Tông nghe danh Thiền Lão là bậc cao tăng đắc đạo, môn sinh theo học hàng ngàn, bèn xa giá lên núi Thiên Phúc, Tiên Du bái yết.

Sau khi được diện kiến, vua thấy vị sư già có dung mạo, cốt cách như tòng như hạc, tuyết sương đã cỗi, lễ độ cung tay thưa rằng:

- Lão thiền sư ở núi này bao lâu rồi?

Khẽ đưa mắt ngước nhìn bậc vương giả: Oai nghi đường bệ, nhưng khí sắc trầm hùng, bình hòa.

Sư bèn thử “sự thâm chứng thiền học” của nhà vua, nên đáp:

“Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu”

(Chỉ biết tháng ngày này
Xuân thu thuở trước ai hay làm gì!)

Nhà vua ngơ ngác. Ông sư già này lẩm cẩm rồi, hỏi một đường, đáp một nẻo. Nhưng dẫu sao, bậc vương giả vốn hay thơ, nghe thiền sư đọc thơ thì cảm thấy thú vị, chẳng chấp gì, hỏi tiếp:

- Vậy thì hằng ngày, Lão thiền sư làm việc gì?

Thiền sư nhìn vua, rồi nhìn hoa cảnh viên môn, tủm tỉm cười, bắt đầu hai tứ thơ xuất hiện, dường như chưa đi qua sự khúc xạ của trí năng:

“Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân”

(Trúc biếc, hoa vàng-không ngoại cảnh
Trăng trong, mây trắng-hiện toàn chân).

Thật tiếc cho tâm huyết của vị thiền sư già. Bậc vương giả kia đã không hiểu, không thấy “thiền sư có ý chỉ gì”, hỏi, thì Thiền Lão không muốn nhiều lời.


Và, thiền sư không muốn nhiều lời là đúng. Nhiều lời là nhiều ý, nhiều ý là chất chồng khái niệm, là “đầu thượng trước đầu”, là “tuyết thượng gia sương”!

Kẻ đạt ngộ, bất cứ dòng phái nào, quốc độ nào, màu da chủng tộc nào, luôn sống trong giây khắc hiện tại. Chỉ có hiện tại là “thực”. Chỉ có cái hiện tại: “Ở đây và bây giờ”- đang chảy trôi, đang dịch hóa mới chính là cái “pháp hiện tiền” cho ta “hiện quán” để thâm ngộ duyên sinh, vô ngã tính:

"Đản tri kim nhật nguyệt.
Thùy thức cựu xuân thu".


“Chỉ biết tháng ngày này, giây khắc này”. Không truy tầm quá khứ, không vọng móng tương lai, xuân thu thuở trước ai hay làm gì! Còn gì rõ hơn thế nữa? Tuy đã quá rõ nhưng bậc vương giả của chúng ta vẫn cứ loay hoay, lăng xăng, muốn hỏi hằng ngày thiền sư làm việc gì! Sao phải làm việc gì! Có “cái gì” nữa sao? Cứ sống trong giây khắc hiện tiền thì “làm gì” hay “không làm gì” đều là đạo cả, đều sống trong thiền, thở trong thiền, đi đứng trong thiền cả...

"Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân".

Hoa vàng kia, trúc biếc kia đâu phải là cái ở bên ngoài tâm. Thực tại, “yếu tính của thực tại” không ở trong, không ở ngoài, chẳng có chủ thể, chẳng có khách thể. Trăng trong kia, mây trắng kia... tất cả chúng đều hiện ra như chân, như thực, đại mỹ, châu toàn... Kẻ mê thì tầm cầu Đông Tây Nam Bắc, những cảnh giới phi thực; kẻ đạt ngộ họ sống với các pháp đang là, với mọi hiện hữu tương quan muôn đời như thị...

Một thời, thiền sư và bậc vương giả của chúng ta là thế ấy. Tuy ta không có được nhiều thông tin do sử liệu ít ỏi, nhưng chỉ cần một vài câu, một vài đoạn, ta có thể hình dung ra diện mạo văn học của một thời. Hãy thử tưởng tượng một ngàn đệ tử vây quanh, những cuộc đối thoại, nhàn đàm giữa thầy và trò, của người hỏi đạo, học đạo... đều hàm chứa văn, triết, thiền học. Chúng không chỉ cho ta thấy trình độ tri thức, kiến thức của họ mà còn toát lên nội lực tâm linh từ dòng thiền uyên áo; biết tiếp thu, chọn lọc, sáng tạo; biết giữ gìn và phát huy, tạo nên một bản sắc đặc trưng của Phật giáo Việt Nam ngay từ thời mới tự chủ, độc lập...

Ôi! Cao đẹp thay!
Minh Đức Triều Tâm Ảnh”

(Nguồn: http://thuvienhoasen.org/)

Cảm ơn một ngày tốt đẹp, với một bản văn hướng thượng.

Trong các loại bánh truyền thống của VN, bánh tét được người dân miền Trung, miền Nam dâng cúng tổ tiên và biếu tặng họ hàng, bè bạn, vào dịp Tết, ngày giỗ. Đặc biệt là trong ngày Tết cổ truyền, trên bàn thờ của mỗi gia đình, bên cạnh mâm ngũ quả, cặp dưa hấu và cành mai vàng thì không thể thiếu cặp bánh tét. TTXVN ghi nhận về "bánh Tét trong ngày Tết phương Nam" như sau.
Theo phong tục tập quán VN, dù ở thành phố hay nông thôn, dù nhà khá giả hay nghèo khó, trên bàn thờ ngày Tết cổ truyền của mọi gia đình VN đều có mâm ngũ quả để thờ cúng tổ tiên. Quan niệm về mâm ngũ quả ở mỗi vùng, mỗi địa phương và mỗi hoàn cảnh cũng khác nhau; Có khi chỉ gồm hai, ba loại quả, nhưng cũng có khi tới hàng chục loại khác nhau.
Theo ghi nhận của các nhà nghiên cứu nhân văn, tại miền Tây Nam phần Việt Nam, từ rằm tháng Chạp, không khí Tết đã bắt đầu Người dân ở đây, dù đời sống luôn phải đối mặt với thiên tai, đón Tết vẫn giữ được truyền thống xưa. Tại vùng nước nổi đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp, Long An... cũng như nhiều làng quê khác ở đồng bằng sông Cửu Long đều có những tập tục đã trở thành truyền thống.
Người Sài Gòn xưa cũng như nay có thói quen gọi cặp từ "Lăng Ông Bà Chiểu" để chỉ lăng thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, từng giữ chức Tổng trấn Gia Định thành (tức cả Nam Bộ và tỉnh Bình Thuận ngày nay) tại khu vực Bà Chiểu. Hàng năm, tại Lăng Ông có hai lễ hội lớn, đó là ngày giỗ Tả quân vào ngày 01.8 âm lịch và ngày hội đầu xuân mồng 1 và ngày mồng 2 Tết.
Theo những truyền thuyết lưu truyền về vị thủy tổ quan họ, người quan họ từ đời này đến đời khác xem nhau là anh em một nhà, mối dây ràng buộc thâm tình ấy đã dẫn đến tục kết chạ, một hình thức kết nghĩa, giữa các làng mà chỉ ở vùng đất quan họ mới có. Một số người quan họ kết bạn không được quyền lấy nhau thành vợ, thành chồng.
Theo SGGP, trong những ngày giáp Tết, trên đường Kha Vạn Cân, quận Thủ Đức, hàng chục chuyến xe nối đuôi nhau chờ chở mai vàng đi Bắc để rồi "vượt biên" sang thị trường Hoa Lục. Do lượng mai được thương lái săn lùng rất lớn, vào những ngày hạ tuần tháng chạp âm lịch, thị trường mai tại thành phố Sài Gòn đang tăng giá chóng mặt.
Vào tuần lễ cuối tháng chạp âm lịch, tại nhiều đền miếu ở miền Bắc VN, có rất đông người từ các nơi đổ về làm lễ "trả nợ Thánh". Đầu năm, những người này thường khăn gói đi "vay". Cuối năm, dù nghèo túng đến mấy, họ cũng phải lo trả nợ. Tuy nhiên, sự "vay", trả này đều là ảo mà thôi. Báo Tiếp Thị-Gia Đình ghi nhận một số cảnh tượng tại Bắc Ninh như sau.
Theo báo Người Lao Động, trong 10 ngày qua, tại thành phố Sài Gòn, nhiều người gửi mai ở vườn mai Hồng Phúc (dịch vụ chăm sóc mai) trên đường Phạm Văn Chiêu, phường 12, quận Gò Vấp, đã xôn xao khi ngày Tết đã đến nhưng nơi vườn mai Hồng Phúc giờ đây chỉ còn một bãi đất trống, cỏ mọc um tùm. Chủ vườn mai Hồng Phúc "biến mất" mang theo hàng tỷ đồng của khách hàng.
Theo báo SGGP, toàn thành phố SG hiện có 115 trường trung học phổ thông (lớp 10-12) thuộc 3 hệ thống:công lập, dân lập, bán công, trong đó có 74 trường đưa môn tin học vào giảng dạy. Số lượng giáo viên tin học có khoảng 195 người. Thế nhưng, phần lớn giáo viên tin học ở các trường đều là giáo viên kiêm nhiệm hoặc mới chỉ được học qua lớp bổ túc tin học ngắn hạn nên trình độ chuyên môn yếu.
Theo báo Lao Động, tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, miền Bắc VN, có một làng rất đặc biệt: Làng xuất cảng lao động. Nơi đây có hàng trăm người đi lao động nước ngoài. Họ đi đông, theo những đường dây riêng, người đi trước tạo điều kiện cho người đi sau, tạo thành một phong trào xuất cảng lao động rầm rộ. Tất cả đều hy vọng có ngày thoát khỏi cái nghèo. Báo Lao Động ghi nhận về làng này như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.