Hôm nay,  

Chuyện Ở Một Làng Cá

25/08/200000:00:00(Xem: 6504)
Bạn,
Tại quận Sơn Trà, Đà Nẵng, có làng cá Thọ An nổi tiếng về nghề săn tôm hùm. Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, hiện làng có khoảng 100 ghe với gần 400 ngư dân, trong đó có đến hơn một nửa sống bằng nghề lặn săn bắt tôm hùm. Đây là một nghề vất vả, nguy hiểm, sản lượng thu nhập tùy theo thời tiết vùng biển. Có những ngư dân đã gắn bó với biển khơi từ thơ ấu, và ở tuổi già, vẫn bám theo nghề. Mời bạn nghe câu chuyện về làng cá Thọ An qua lời kể của một nữ phóng viên báo Tuổi Trẻ.

Trong trí nhớ của nhiều lão ngư, nghề lặn xuống biển săn bắt tôm hùm đã có ở Thọ An từ lâu. Theo dòng ký ức của lão ngư Ngô Văn Lê, 65 tuổi, trước mắt chúng tôi như hiện ra cảnh quan trù phú sản vật ở một vùng sông nước từ hàng chục năm về trước. Cứ vào tháng giêng, tháng hai, khi thời tiết bắt đầu yên, các ngư dân làng cá Thọ An lại chuẩn bị đồ nghề đi lặn tôm hùm. Đây là mùa biển lặng, nước biển bắt đầu trong và ấm, từng đàn tôm hùm đỏ, tôm hùm xanh nổi lên ở các rạn san hô ven chơn núi Sơn Trà, cù lao Chàm, chân đèo Hải Vân. Theo ngư dân Thọ An, loại giáp xác này thường cư trú trong các rạn san hô, ghềnh đá, chỉ khi nước biển ấm, trong xanh chúng mới bò ra kiếm ăn. Do vậy mùa săn tôm hùm bắt đầu và kéo dài đến tận đến tháng sáu, tháng bảy âm lịch. Chỉ đến khi nào đến mùa nước gấu (trời có bão, nước đục), các ghe làm nghề lặn tôm với gọi ngư dân bạn đi cùng chuyến chuyển sang nghề câu, xúc, lưới rùng.

Ông Lê kể: Hồi trước nghề lặn ít người theo vì vất vả và ít tiền. Chỉ có ai nghèo, không đủ tiền sắm ghe đi biển mới đi lặn kiếm sống. Những năm sau 1975, cứ mỗi mùa biển lặng là tôm nổi lên nhiều lắm, chỉ lặn khoảng 4-5 sải nước là bắt được những con tôm hùm to bằng cổ tay người lớn. Để bán cho người ta làm thức ăn, nên cánh thợ chúng tôi thường dùng chĩa đâm cho tôm chết trước khi đưa vào bờ bán cho bạn hàng. Đến những năm 90, khi con tôm hùm trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị thì nghề lặn tôm hùm mới thu hút được số đông lao động trong làng. Lúc bấy giờ nguồn tôm hùm tại vùng biển chung quanh Quảng Nam-Đà Nẵng còn rất dồi dào. Những người lặn giỏi mỗi ngày ít nhất cũng được vài ba trăm ký tôm thịt. Lúc này tôm hùm chưa xuất cảng nguyên con mà chỉ lấy phần đuôi có thịt cho vào tủ cấp đông xuất dưới dạng nguyên liệu thô.

Hai năm trở lại đây vùng biển quanh bán đảo Sơn Trà, cù lao Chàm bỗng xuất hiện nhiều tôm bông con. Dân làm nghề lặn sợ nguy hiểm nên phần lớn đã chuyển sang lặn tôm hùm bán cho người nuôi tôm hùm xuất cảng. Nghề này không nguy hiểm mà lại có thu nhập khá. Anh Lê Văn Cần, ngư dân ở Thọ An, cho biết trước đây anh chuyên lặn bắt tôm hùm thịt, nhưng từ năm 1999 anh chuyển sang bắt tôm con để bán cho các chủ đậu cung cấp cho người nuôi tôm hùm xuất cảng tại các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định.

Bạn,
Cũng theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, ngư dân làm nghề lặn bắt tôm hùm luôn luôn phải đối mặt với bao hiểm nguy, có người đã “sinh nghề, tử nghiệp”. Có những người không ngoi lên được để nhìn thấy trời đất một lần cuối, vì bình dưỡng khí lúc không còn hơi lại níu luôn thi thể người thợ lặn xuống đáy biển. May là có bạn bè đi cùng phát giác được, đã lặn xuống mang lên ghe thuyền. Kể lại những trường hợp đó, các ngư dân nói rằng “ít ra cũng còn được chôn cất ở mảnh đất quê nhà, được hương khói sưởi ấm”. Khi ghe ra vùng lặn bắt, những người thợ lặn thay nhau xuống biển, những người trên ghe chăm chú theo dõi những động tĩnh của sợi giây thông hơi. Giữa biển cả mênh mông, chiếc thuyền nan trở nên mênh mông, bé nhỏ vô cùng.

Các bạn vàng Trung Quốc vào đất Việt để làm gì? Có nhiều lý do, tất nhiên.
Chúng ta có thể thắc mắc rằng tại sao con số tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam lúc nào cũng quá thấp, trong khi số người thất nghiệp ngoaì phố thị và trong làng xã lại quá đông tới đếm không xuể.
Có ai đã từng bảo rằng dân tộc mình vốn ưa thích thi ca. Hẳn là không hoàn toàn đúng đâu, vì nếu thế, nhà thơ hẳn là có thể tự lực tự cường về mặt tài chánh bằng những dòng thơ của họ.
Câu chuyện ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2009 tuyên bố hùng hồn rằng khai thác bauxite Tây Nguyên là chủ trương lớn của “Đảng và Nhà Nước,” bác bỏ hết những phản biện từ nhiều ngàn vị trí thức, chuyên gia... bây giờ mới thấy khủng hoảng. Đỉnh cao trí tuệ của nhà nước bây giờ mới trở thành trò giễu cho cả thế giới.
Nếu chúng ta không phải bác sĩ, và ngay cả nếu có là bác sĩ nhưng thiếu những máy thử nghiệm y khoa tối tân để đo lường các số liệu kích thích tố trong cơ thể, làm sao chúng ta có thể xác định giới tính của một người nào là nam hay nữ?
Chúng ta đang sống trong thời đủ thứ giả mạo.
Từ nhiều thập niên, chúng ta vẫn nhìn về phương Bắc như cội nguồn, như ngưỡng vọng về những quê hương tâm linh xa thẳm nghìn năm của Núi Tản, của Sông Hồng, của Yên Tử, của Hoa Lư... nơi phát tích những cổ xưa văn hóa Việt.
Đó là chuyện rất lạ, khi một người xứ lạ vào VN, tự xưng là Tiến Sĩ Nông Nghiệp Tứ Xuyên, thuê dân mình trồng lúa lạ.
Đó là chuyện hiếm khi nói tới. May mắn, nhờ cuộc cách mạng tin học, và nhờ các blog mọc lên như nấm, cuối cùng mới có chuyện khó nói lại được nói lên.
Nhớ hồi đi học, mỗi lần ra sân trong giờ thể dục thể thao là ông thầy bắt vừa chạy, vừa hát bài “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau...” Mới biết, kỷ niệm tuyệt vời, một lần in vào trí nhớ thơ trẻ, là chúng ta khó quên vậy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.