Hôm nay,  

Cá Basa Bị Khai Tử?

09/12/201400:00:00(Xem: 5586)

Báo chí thường có câu nói rằng, trong nên kinh tế thị trường, cơ sở nào kinh doanh yêú kém sẽ biến mất, không chinh phục nổi khách hàng sẽ bị đẩy vào chỗ phá sản...

Cũng y hệt luật rừng xanh, con thú yếu sẽ bị xóa sổ. Cũng y như chiến tranh, kẻ mạnh sẽ thắng.

Nhưng đây là chuyện cá: Có phải cá tra đã khai tử cá basa?

Hình như thế, nhưng chỉ vì người chứ không phải vì cá.

Trang web Hội Nông Dân VN đang bài viết từ Báo Dân Việt, tựa đề nghe rất mực ngậm ngùi: “Ngậm ngùi con cá basa đi vào... cổ tích.”

Như thế, là con cá basa đã đi theo các loài thú linh thiêng như rồng, như phượng... Bài viết trích:

“Những năm 1990, sau khi thịt cá basa philê tìm được đường xuất khẩu vào thị trường Mỹ, đã mở ra thời cơ vàng cho người nông dân An Giang- xóa đói, giảm nghèo và làm giàu.

Với mức giá cá basa xuất khẩu 8USD/kg, làng bè cá mới mọc lên san sát bên sông Hậu, các nhà máy, chế biến tấp nập ra đời.

Thế là phát triển tự phát, chèn ép lẫn nhau, cạnh tranh tự do dẫn tới không bảo đảm chất lượng, khâu giống có nhiều gian dối. Nông dân đề nghị, lãnh đạo tỉnh An Giang đề nghị Nhà nước phải quản lý, ngành nông nghiệp phải quản lý. Nhưng không ai nghe. Ông Nguyễn Minh Nhị - nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, xót xa: Họ nói “thị trường là tự do, Nhà nước không can thiệp”. Tiếp nữa, khi nhu cầu cá basa tăng nhanh, khách hàng ở Mỹ gợi ý, một số Việt kiều ở Mỹ gợi ý đưa cá tra vào nuôi đội lốt cá basa để kiếm lời. Cá tra dễ nuôi, năng suất lại cao đã nhanh chóng “đè bẹp” cá basa - loài cá vốn dĩ thịt thơm ngon nổi tiếng trên thế giới này chỉ có Việt Nam nuôi thương phẩm thành công.


Vậy là bất chấp có quy hoạch hay không có quy hoạch; đất trồng rau hay đất 2 lúa, nông dân cứ thế chặt – chém, lấp – đào ao nuôi cá tra, kiếm tiền cho bằng được, quy hoạch để lại sau… Thế là rộ lên thành phong trào từ tỉnh An Giang đến khắp các tỉnh ĐBSCL, các nhà máy cũng bị cuốn vào cuộc, thi nhau vay vốn đầu tư. Đến năm 2000 toàn miền sinh ra kiểu cạnh tranh “tự hủy diệt” không chỉ người nuôi cá mà cả doanh nghiệp cũng “đi đêm” chào giá thấp.

Bây giờ tại An Giang, quê hương của cá basa cũng chẳng còn. Con cá basa “trời” ban cho miền sông Tiền, sông Hậu cũng không còn, con cá basa đã đi vào cổ tích. Và rồi ngày mai tương lai nông nghiệp, những đặc sản nổi tiếng mang thương hiệu Việt như: Hạt tiêu, nước mắm Phú Quốc, bưởi Năm Roi, thanh long, cà phê Ban Mê Thuột, chè Thái Nguyên… mãi còn hay cũng theo đường cá basa đi vào cổ tích?”

Ngậm ngùi là vậy. Đây cũng là cảnh báo cho các thương hiệu khác...

Cũng cần nghĩ xa hơn, bản sắc dân tộc Việt có thê thích ứng với làn sóng văn hóa đa chiều từ Tây, Tàu, Mỹ, Nhựt... hay không? Và tới mức nào?

Cần nghĩ xa hơn con cá basa vậy.

Theo báo Thanh Niên, tại thành phố Đà Lạt, chuyện cá độ túc cầu đã trở thành chuyện hàng ngày, và trò cờ bạc này diễn ra mọi lúc, mọi nơi, thu hút đông đảo thanh niên, sinh viên. Phóng viên báo TN viết như sau.
Câu chuyện kể với bạn trong lá thư này xảy ra tại 1 xã nghèo ở tỉnh Hà Nam. Đó là xã Tiên Phong thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Năm 2003, tỷ lệ gia đình nghèo chiếm 21% dân số. Người dân nơi đây từ ngàn xưa sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp và nghề trồng dâu nuôi tằm. Vài ba năm trở lại đây, lợi dụng sông Châu Giang rộng lớn bao bọc
Tại miền Tây,sau dịch cúm gà, nhiều gia đình nông dân gần như sạt nghiệp. Vì vậy, ai cũng trông chờ chính quyền CSVN địa phương công bố hết dịch để gầy dựng lại đàn gà càng sớm càng tốt. Nhưng rồi nhiều người đã ngao ngán vì đụng... bức tường thủ tục quá rắc rối, nhiêu khê với những kiểu hành dân đến bần cùng của các cơ quan chức năng.
Tại VN, một dạo dư luận rộ lên chuyện trẻ con hát nhạc người lớn hay nói nôm na là các "thần đồng" ca nhạc hát "tình ca". Hiện tượng trên trở nên bộc phát khắp nơi từ khi các CD, VCD bán nhan nhản ở mọi hang cùng ngõ hẻm với những "danh ca" Bé Châu, Duy Phước... Độc chiêu nhất là hàng loạt "lò" luyện để trở thành "thần đồng" ca nhạc ra đời.
Trong và ngoài hàng rào trên dưới 90 khu công nghiệp và khu chế xuất cả VN, công nhân vẫn lầm lũi làm việc, vẫn tích cóp từng đồng bạc lẻ mong đổi đời. Lao động cực nhọc suốt ngày ở nhà máy, họ còn chịu nhiềukhốn khổ về chuyện ăn ở như ghi nhận của báo SGGP qua đoạn ký sự như sau.
Chuyện kể với bạn trong lá thư này là chuyện của những người dân nghèo ở Cần Giờ, huyện ngoại thành của Thành phố Sài Gòn. Cuộc đời họ, quanh năm suốt tháng chỉ biết có nghêu và biển. Bất kể là trời mưa hay nắng, lúc đêm hôm hoặc giữa trưa nắng gắt, chỉ cần đợi thủy triều rút, biển cạn là họ đến với biển, đến với nghêu. Báo SGGP viết về những người sống theo con nước qua đoạn ký sự như sau.
Cắt tóc, gội đầu đã thành nghề mưu sinh của nhiều cô, đặc biệt với những cô gái trẻ ở chốn quê. Đa số họ là những cô gái, thi đại học không đỗ hoặc chỉ học đến hết cấp tiểu học, trung học cơ sở (lớp 9) rồi bỏ dở giữa chừng. Không nghề nghiệp, nghe theo lời bạn bè, họ tìm đến những tiệm tóc ở thành phố để học nghề làm đầu với chi phí tối thiểu là 2 triệu đồng/khoá học.
Quán cà phê được nhắc đến trong lá thư này là 1 quán rất đặc biệt. Chủ nhân là 1 cô gái Nhật hoạt động thiện nguyện. Nhân viên phục vụ ở đây đều là những người chậm phát triển, khuyết tật. Họ khoác áo trắng thêu hoa anh đào và đón khách trong tiếng chuông rung reng... Báo Tuổi Trẻ viết về quán này như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, cách nay khoảng 15 năm, các chương trình ca nhạc, từ sân khấu tụ điểm, nhà văn hóa đến các đoàn hát, truyền thanh, truyền hình... bỗng nhiên xôm tụ với sự xuất hiện nhiều sáng tác mới của một dàn các nhạc sĩ mới, kéo theo sự xuất hiện của một dàn nghệ sĩ mới, dần dần, trên thị trường âm nhạc có quá nhiều ca khúc tình yêu mà báo quốc nội cho rằng đó là nhạc não tình, nội dung luôn rên rỉ.
Xăm mình đang trở thành "mốt" của nhiều giới trẻ trong nước. Người đi xăm có cả nam, cả nữ. Chỉ cần vài trăm ngàn, những con rồng, sư tử, bông hoa hồng... sẽ qua bàn tay thợ xăm "ngự" lên ngực, lên vai khách. Báo Kinh Tế-Đô Thị viết về các lò xăm mình tại Hà Nội qua đoạn ký sự như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.