Hôm nay,  

30-4, Đọc Thơ Trạch Gầm

30/04/201500:00:00(Xem: 4371)
Vậy là tới ngày 30 tháng 4 của tròn 40 năm. Và là ngày Sài Gòn đầu hàng. Và là ngày Sài Gòn chờ đợi bị xóa tên.

Hôm nay xin ghi một số câu thơ của thi sĩ Trạch Gầm, tức là chiến binh Nguyễn Đức Trạch của quân lực VNCH để tưởng niệm 40 năm.

Thi sĩ đã viết cho các chiến hữu đã hy sinh vì Tổ Quốc qua bài “Lời trước Nghĩa Trang”, trích:

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến,
Được cái hơn mầy nhìn thấy quê hương.
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương…

Hay qua bài thơ “Xa lạ” của Trạch Gầm:

“Em cho phép,
Nhưng không bao giờ em biết
Một ngày thôi, một ngày thật của ta
Ta đã khóc tan hoang, khóc hết sức thật thà
Không khóc vì em mà vì những đứa làm lính
Bài học đầu hàng
Ta không bao giờ tính
Ta đếm lại vết thương thành sẹo bên mình
Có thể với em, ta lẩn thẩn vô tình
Nhưng với quê hương, ta không vô tình thế được.”

Hay là từ bài thơ “Ráng Chịu”:
…
...Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầy… còn ráng chịu nổi không.

Và tới những câu hỏi không ai trả lời, Trạch Gầm viết qua bài “Tự Hỏi:

Giờ trách ta ôi một thân vô dụng
Gác kiếm mòn cả vách đá thời gian
Người tức giận đến cành hông tức bụng
Vậy thôi ư … mà cứ ngỡ ngang tàng.
.
Nơi đất người một mình ta ngồi nhớ
Từng hạt mưa … từng mảnh nắng quê hương
Người có còn như xưa không người hỡi
Đôi tay ngà đòi túm gọn gió sương.

Hay la qua bài “Nói với Trạch Gầm” thi sĩ tự dặn dò:

Nếu có nát… nát tim gan phèo phổi
Chớ tâm hồn… đừng có nát biết không
Những thằng em mầy đã từng đánh đổi…
Tuổi hai mươi… cho tình nghĩa Núi Sông...

Hay là bài thơ “Điểm danh” được Trạch Gầm ghi là để “Nhớ Cô Khưu Ngọc Sang, Người Thầy Võ Trường Toản kính,” trong đó học trò tâm sự:

Thế hệ em mang những điều cô dạy
Đốt từng trang trên chiến địa điêu tàn
Thằng chăm học cũng như thằng phá phách
Cùng gánh gồng bao nghiệt ngã lầm than
.
Năm chục năm rồi Cô có còn giở sổ

Nhớ đám học trò Võ Trường Toản của Cô
Những thằng nhỏ thuở má hồng môi đỏ
Còn lại bao nhiêu… sau cuộc chiến mịt mờ...”

Hay là qua bài “Nhắc chuyện cũ… nói chuyện nay” Trạch Gầm nói về những bạn cùng lứa tuổi đi theo Việt Cộng:

Đã cầm súng thì không hèn mầy nhỉ
Mầy đập tao thì tao lại đập mầy
Tao trầy vi thì mày cũng tróc vảy
Dân miền Nam mình ngậm đắng nuốt cay
.
Nhắc chuyện cũ chơi mầy ngồi ngẫm thử
Tết Mậu Thân, mày còn lại mấy thằng
Năm Truyện, Sáu Khâm, thằng 5, thằng 9 (1)
Bọn bắc lùa mày vào lửa thiêu thân

Thua rồi, nhưng nhìn lại những kẻ thắng trận, lòng anh xót xa và rồi nôi giận khi nhìn thấy mất dần đất và biển về tay giặc Tàu. Trạch Gầm mắng bộ đội qua bài “Bộ Đội của Nhân Dân”:

Là bộ đội của nhân dân, sao mày đi bảo vệ.
Một lũ đầu trâu hút máu Đồng Bào.
Một lũ đầu trâu hiến đất cho Tàu.
Tác quái lộng hành giam người Yêu Nước.
Tổ Quốc lâm nguy sờ sờ trước mắt.
Non nước đang cần Bộ Đội Nhân Dân.
Vá… rất đang cần những thằng từng thề.
Quyết tử cho Tổ Quốc Quyết Sinh.”

Hay là, khi Trạch Gầm kể lại những ngày tháng tư 1975, qua bài “Nhật Ký Tháng Tư” trích:

Hai ba tháng Tư… ta ngược Đồng Nai
Sương ôm mặt sông lau sậy thở dài
Địch xua quân tràn giữa đêm vắng lặng
Ta chỉnh pháo… và thây giặc chồng thây
.
Ta lạc mấy ngày trong lòng đất địch
Gọi đã khàn hơi chẳng thấy bạn bè
Thằng nào cũng đang giữ từng tấc đất
Đâu có thì giờ để cứu ta ra
.
Hai tám tháng Tư… ta ra lộ Một
Gặp ông tướng vùng thị sát thăm dân
Ông nói lung tung, ông thề sống chết
Ông nói xong rồi, ông bay biệt tăm
.
Hai chín tháng Tư… Biên Hòa xơ xác
Ta về Sài Gòn ngang qua nghĩa trang
Ta đứng nghiêm chào bạn ta đã chết
Như tự chào mình - nát cả tim gan.
.
Ba mươi tháng Tư… ta ôm mặt khóc
Trên cầu Sài Gòn - cạnh phố Hùng Vương
Mười năm binh đao… mười ngày kết thúc
Ta, còn nguyên, mà… mất cả Quê Hương!

.

Vậy là tròn 40 năm. Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ?Trạch Gầm với những dòng thơ viết từ tim máu.

Đó là những chuyện diễn ra hàng ngày, quanh đây: những bữa ăn ngập đầy hóa chất. Hóa chất thực ra là một phát minh tuyệt vời của nhân loại, vì nếu không có ngành hóa học phát triển như hiện nay, khoa học không thể đem tới cho nhân loại quá nhiều tiện như như hôm nay.
Một thời, chúng ta say mê đọc truyện Tàu. Những tác phẩm kinh điển như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Tây Du Ký, vân vân... liên tục như được đọc từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Những trang giấy xưa cổ, ấp ủ những thông tin quý giá về những thời xa vắng của quê nhà, đang biến dần đi.
Học sinh là người của tương lai. Đất nước sau này hưng vong đều nhờ vào các học trò đang ngồi miệt mài học ở các trường lớp. Và không giúp các em, có nghĩa là tự mình cắt đứt những mầm hưng thịnh tương lai của đất nước.
Có một kiểu nói thường nghe quen ở Sài Gòn, khi bất chợt thấy xảy ra những điều trái mắt trái tai: dzô dziên. Nghĩa là “vô duyên.”
Một thời chúng ta ngồi miệt mài đọc sách ở Thư Viện Chùa Xá Lợi, rồi ở Thư Viện Lincoln, rồi ở Thư Viện Quốc Gia... đó là chưa kể những ngày đứng bên các kệ sách Khai Trí để đọc chùa, đọc cọp. Những kỷ niệm về thời say mê sách vở như còn in đậm trong trí nhớ, bất kể những chòm tóc bạc đã phất phơ trước mắt.
Nhiều người nói rằng dân Việt Nam không có văn hóa chen lấn. Nghĩa là, không chịu đứng vào hàng, cứ chen lên trước, cứ chen vô giữa, cứ lấn cho người ta dạt ra sau để mình đứng trước. Có đúng như thế không, và tại sao?
Tại sao những chuyên gia ưu tú, những sinh viên xuất sắc lại muốn rời bỏ Việt Nam? Có phải vì quê nhà đã trở thành nơi chỉ giành những vị trí tốt cho con cháu cán bộ, và để mặc cho các sinh viên tốt nghiệp đaị học ra đường phố ngồi bán trà đá, đạp xe bán dạo cà phê?
Xiếc là một nghề khó theo đuổi. Không phải ai tập cũng được. Do vậy, khi một gánh xiếc lưu diễn vào một thành phố, ai cũng háo hức muốn xem những trò biểu diễn lạ.
Văn chương là vùng đất của nhiều kho tàng ẩn kín. Không phải ai cũng dễ dàng thấy được các kho tàng này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.