Hôm nay,  

Tình Yêu Thời Nội Chiến

06/05/201500:00:00(Xem: 4046)

Hôm nay, nhân chuyện 40 năm Bắc quân chiến thắng, nay kể lại một chuyện tình thời nội chiến hơn 2 thế kỷ trước. Trong đó, cững kèm theo một trận bút chiến văn học sau thời chinh chiến điêu linh.

Trong đó, có chuyện Chương Lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng viết bài Tụng Tây Hồ Phú để ca tụng nhà Tây Sơn. Lúc đó là đầu thế kỷ 19.

Chiến sĩ Phạm Thái với lập trường phù Lê, mới mắng cho, làm bái Chiến Tụng Tây Hồ Phú.

Nguyên khởi là năm 1801 vua Bảo Hưng nhà Tây Sơn ra thăm Thăng Long. Nhân tiết hạ chí, ông làm lễ tế mùa hè ở đền Phương Trạch tại Hồ Tây, sai Nguyễn Huy Lượng lúc bấy giờ đang là Chương lĩnh hầu, giữ chức quan Phụng nghị bộ Lễ, soạn một bài thơ và một bài phú, đọc trong buổi lễ tế ngày 21 tháng 6 năm Tân Dậu (1801). Bài thơ và bài phú này được nhà vua rất tâm đắc và đã ban thưởng cho Nguyễn Huy Lượng hai quan tiền đồng.

Tây Hồ phú hay còn gọi là Tụng Tây Hồ Phú hoặc Tây Hồ cảnh tụng, là một bài phú của Nguyễn Huy Lượng ca ngợi cảnh Hồ Tây, thông qua đó ca ngợi sự nghiệp, công lao của triều đại Tây Sơn.

Bấy giờ Phạm Thái đến chơi nhà bạn ở kinh đô, nghe đọc bài "Tụng Tây hồ phú", hỏi ra là do Chương Lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng sáng tác. Lượng vốn là tôi nhà Lê, sau làm quan với Tây Sơn, viết bài "Tụng Tây hồ phú" để ca ngợi vua Quang Trung. Phạm Thái nhân đó hoạ lại bằng bài này để bày tỏ lòng trung của mình với nhà Lê.

Ngắn gọn, Phạm Thái mắng ông quan Nguyễn Huy Lượng.

Phạm Thái sinh năm 1777 tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội). Ông là con Trạch Trung hầu Phạm Đạt, một võ tướng cao cấp đời Cảnh Hưng, đã khởi chống Tây Sơn nhưng thất bại.

Nối chí cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi ngao du nhiều nơi để tìm và kết giao với người cùng chí hướng. Ông gặp Phổ tỉnh thiền sư (Trương Quang Ngọc), Nguyễn Đoàn rồi cùng nhau chống Tây Sơn, nhưng không thành công.

Bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sư, vào tu ở chùa Tiêu Sơn (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lưng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu Thiền sư.

Đi tu được mấy năm, thì bạn ông là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ (người làng Thanh Nê, thuộc huyện Kiến Xương, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Thái Bình), đang làm quan ở Lạng Sơn, cho người đón ông lên đấy, tính chuyện phù Lê.

Tự Điển Bách Khoa Mở kể rằng một năm sau, khi ông trở về Kinh Bắc thăm nhà, thì được tin Trương Đăng Thụ bị đại thần Vũ Văn Dũng đầu độc chết, và đang được đem về chôn cất ở quê nhà. Phạm Thái liền đến làng Thanh Nê điếu tang bạn. Ở đây, ông đã giúp nàng Long Cơ (vợ Thanh Xuyên hầu) soạn Văn triệu linh gọi hồn chồng, làm Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu và viết Lời đề nhà Nghĩa lư để giãi bày nỗi niềm thương nhớ bạn sâu sắc của ông.

Vì yêu nết, trọng tài, Kiến Xương hầu Trương Đăng Quỹ (cha Thanh Xuyên hầu) đã mời Phạm Thái ở lại để làm gia sư dạy trẻ. Nhờ vậy, Phạm Thái quen được em gái bạn là Trương Quỳnh Như. Họ cùng xướng họa thơ văn, rồi thầm yêu nhau. Cảm phục tài thơ của Phạm Thái, Kiến Xương hầu định gả con cho ông, nhưng người mẹ không bằng lòng, vì muốn gả cho một người khác.

Bị ép gả, Quỳnh Như tự tử, còn Phạm Thái cũng vì quá đau xót, đã rời bỏ nơi đó đi lang bạt. Quảng đời cuối của ông là những trận rượu say li bì, là những bài thơ văn bi quan và yếm thế.

Phạm Thái mắc bệnh rồi mất ở Thanh Hóa năm Quý Dậu (1813), lúc 36 tuổi.

Trích bài Chiến Tụng Tây Hồ Phú mấy câu như sau:

“…Chính sự này đừng nói với ta chi, nỏ kim quy để nhằm con quái thỏ;
Văn chương ấy chớ khoe cùng tớ nữa, cung mộc tinh dành bắn cái yêu hồ.
Gẫm nhân sự biết rằng cơ trị loạn;
Xem hồ quang đã không dấu thanh du.
Con lộc kia nào có phép toàn đâu, ông ngồi mã thượng hãy rình theo, còn quen thói nịnh tà mà chỉ lộc;
Khóm do nọ hẳn đến ngày thì cắt, kẻ muốn tình chung mà rửa sạch, bỗng buông tuồng gian ác lại sùng do.
Đá khiết bạch khó mài mầu xiểm nịnh;
Nước thanh quang khôn lọt vết tham ô.
Quốc đã nguy mà tướng lại không tài, phép đâu biết rằng cơ trị loạn;
Quân thì ám vả thần du chỉ nịnh, lẽ nào hay đến chốn điều trù…”(hết trích)

Than ôi, hình như lịch sử đang lặp lại? Có phải thời quốc-cộng phân tranh cũng là tái diễn Trịnh-Nguyễn phân tranh? Hay cũng là hình thức của phù Lê kình với Tây Sơn?

Lịch sử có những bước đi khó hiểu vậy.

Gần đây ở thị trấn An Thạnh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, có một thầy lang có biệt danh là "Ba xe tăng" nổi tiếng với một cách chữa bệnh mới "đau đâu chích đó". Không chỉ người dân ở Bình Dương mà các tỉnh thành lân cận cũng đổ xô đến chữa trị. Để được thầy khám, người bệnh phải đến lấy số thứ tự từ 4, 5 giờ sáng mới may sao có thể khám được trong ngày.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, trên địa bàn thành phố Sài Gòn, tại các khu vực quanh các trường đại học, cao đẳng, ký túc xá sinh viên, có rất nhiều quán ăn sinh viên. Đa số các quán đều ẩm thấp và tạm bợ, chỉ đủ chỗ kê chiếc tủ kính bày các món ăn, 5-7 chiếc bàn. Còn lại là gian bếp nhỏ hẹp, phòng vệ sinh hôi hám: rửa rau, rửa chén... tất cả đều diễn ra trong ấy..
Tại tỉnh Vĩnh Long, miền Tây Nam phần, có 1 làng nổi tiếng về nghề đan cần xé. Không ai biết được làng nghề này có từ bao giờ vì nó đã có mặt ở Vĩnh Long này từ hồi xưa lắm. Còn theo các cụ cao niên kể lại thì tổ tiên là người Hoa, di cư từ vùng Quảng Ngãi vào Vĩnh Long lập nghiệp thuở xa xưa, rồi lập làng và sinh sống bằng cái nghề đã mang theo từ Trung Hoa sang.
Tại nhiều làng quê ở miền Trung, cuộc hành trình nuôi con ăn học của những gia đình nghèo vô cùng gian nan. Có những người mẹ lo tương lai cho con bằng củ sắn, củ khoai, bằng những ngày tháng nắng mưa vuốt mặt, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời... vậy mà không hề than nghèo kể khổ. Phóng viên báo Tuổi Trẻ đã ghi lại câu chuyện về những hy sinh của 2 người mẹ nghèo ở vùng quê Quảng Nam qua đoạn ký sự như sau.
Theo báo quốc nội, trên địa bàn thành phố Sài Gòn, có nhiều trường học đang phải "sống chung" với những khu chợ với đủ thứ hỗn tạp. Tiếng kỳ kèo chửi bới, tiếng chửi thề văng tục rồi cảnh sình lầy, mùi tanh tưởi đặc trưng của chợ cứ đeo bám học sinh từ đường tới trường vào đến lớp học. Báo Tuổi Trẻ ghi nhận thực trạng này như sau.
Năm học mới của các trường trung, tiểu học tại VN đã bắt đầu từ thượng tuần tháng 9, trong khi bao trẻ em tung tăng cắp sách đến trường, tại nhiều địa phương, có không ít trẻ em vứt bỏ sách vở, lao vào cuộc mưu sinh. Tại miền Tây Nam phần, trên ruộng đồng, ngoài vùng lũ, hình ảnh những em bé lam lũ, nhếch nhác suốt ngày tất bật việc áo cơm không phải khó tìm.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại Sài Gòn, những thông tin về việc bỏ kỳ thi tốt nghiệp tiểu học, rồi lại tiếp tục bỏ kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở (lớp 9) trong niên khóa 2005-2006 đã khiến nhiều phụ huynh học sinh hân hoan khi nghĩ tới viễn cảnh con mình sẽ được học tập nhẹ nhàng hơn. Nhưng chỉ mới qua vài tuần nhập học, không ít người đã phải kêu trời với yêu cầu học thêm, học hai buổi/ngày của nhà trường.
Theo báo quốc nội, cùng với cơn sốt phim ảnh và thời trang Nam Hàn thâm nhập vào Việt Nam, ngày càng có nhiều thanh niên, thanh nữ theo học các lớp dạy tiếng thích ngôn ngữ xứ Hàn. Phóng viên báo Korea Herald cũng đã nhìn nhận về trào lưu này và đánh giá về sự hạn chế của hoạt động quảng bá tiếng Hàn của các cơ quan chức năng Nam Hàn. Báo Giáo Dục &Thời Đại ghi nhận về trào lưu này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, chợ đầu mối Chánh Hưng là nơi cung cấp một lượng thủy hải sản cho cả thành phốvà các tỉnh lân cận, mỗi ngày đưa ra thị trường từ 300 đến 400 tấn cá các loại. Hai tháng trở lại đây xuất hiện một số thanh thiếu niên chuyên trộm cắp, cướp giựt cá của những người lấy mối tại chợ, gây ra tâm lý lo sợ cho một bộ phận tiểu thương.
Theo báo quốc nội, tại Vũng Tàu, dọc theo các con đường của trung tâm thành trong phố, những hàng quán đề biển "Cơm bình dân"mà mọi người thường hay gọi bằng một cái tên khác là cơm bụi, mọc lên ngày một nhiều. Những quán cơm này đã trở thành chỗ thân quen của nhiều người, nhất là với những người sống xa gia đình. Tuy chưa thể thay thế bữa cơm gia đình, nhưng "cơm bụi" đã giúp những người bận rộn, những người xa gia đình một bữa cơm nóng sốt sau những giờ lao động mệt mỏi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.