Hôm nay,  

Thơ Và Ngôn Ngữ Dân Tộc

28/09/201500:00:00(Xem: 4134)

Hôm nay mời quý độc giả đọc mấy vần thơ từ các thi sĩ dân tộc thiểu số.

Đó là trên trang của nhà thơ Inrasara. Kể về một hội nghị thơ hồi tháng 5-2015.

Trích lời thi sĩ Inrasara về chủ đề như sau:

“Inrasara

Tôi xin nói ngay là, người thuyết trình ở Bàn tròn Văn chương không phải là kẻ biết nhiều nói với người biết ít hơn, mà là nêu vấn đề để cùng thảo luận, tương tác. Nêu lên sự khác biệt không phải so đo hơn kém, hay dở mà là cái KHÁC. Khác với những gì quen thuộc ta từng biết, từng làm, từng bàn. Tôi xin đi thẳng vào vấn đề.

Từ khi nhập cuộc văn chương tiếng Việt, các thế hệ thơ người Dân tộc Thiểu số liên tục xuất hiện, thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều vùng miền khác nhau. Họ nói lên tiếng nói dân tộc và tâm cảm dân tộc mình, qua đó họ thể hiện bản sắc dân tộc và bản sắc vùng miền. Ở đó không ít tác giả sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ: thơ tiếng Tày, Thái, Khmer, Cham… Tất cả làm giàu sang nền thơ Việt Nam đa dân tộc, với những cái khác lạ, độc đáo.

Đó là điểm chung. Từ điểm chung đó nảy sinh sự khác biệt mang tính dân tộc và vùng miền riêng. Đâu là khác biệt?

1. Trước hết, các nhà thơ người Dân tộc Thiểu số luôn khẳng định cá nhân qua bản thể dân tộc. Vương Anh với “Hoa trong Mường”, Lương Định là “Lời người cha lũng núi”, Pờ Sảo Mìn con trai người Padí qua “Cây hai ngàn lá”… Nhất là Dương Thuấn với Bản Hon và sông Năng của anh. Trần Wũ Khang ở miền Trung thì khác, nếu có đề cập gốc gác, anh nêu nó lên để đùa nghịch: “Thằng con hai dòng máu” [Cham Việt] (Quà tặng của Quỷ sứ, 2009).


Cạnh đó, sự khẳng định dân tộc và bản sắc còn được thể hiện rõ qua tên bài thơ ở các nhà thơ thuộc vùng miền khác nhau.

2. Lối nói dân dã và hiện đại. Thử phân tích giữa Bùi Tuyết Mai qua bài “Lưu khách” và Kiều Maily qua bài “Nhảy” (tác giả đọc):

Hãy dừng chân nhà em một đêm
Chỉ một đêm thôi
Cho con ngựa anh nghỉ ngơi
.
Hãy nán lại nhà em một đêm
Chỉ một đêm thôi
Cho con ngựa anh uống nước
.
Hãy nghỉ lại nhà em một đêm
Chỉ một đêm thôi
Cho con ngựa anh ăn vài đấu ngô thơm
.
Hãy ở lại nhà với em một đêm
Một đêm thôi…
Ta thấy nhà thơ nữ ở cực Nam Trung Bộ khác hẳn, rất hiện đại:
Giữa anh và em là vực thẳm
Mấy lần số cát bãi Nam Kương kia không thể lấp đầy
.
Giữa đôi mắt chúng ta là vực thẳm
Đắm đuối đến đâu cũng không thể đầy
.
Giữa thân thể chúng ta là vực thẳm
Ngàn nụ hôn cũng không thể làm đầy
.
Anh có muốn cùng em nhảy không?

3. Lối suy nghĩ và nhịp điệu. Nhiều nhà thơ có lối suy nghĩ rất mới, nhưng nhịp điệu thơ truyền thống vẫn được giữ lại. Hoàng Chiến Thắng:

Đứa trẻ bưng tuổi thơ
Chạy ngược
Tiếng rao vỡ vào phố đêm
… Người đàn bà cõng mưa
Che con
Tiếng đàn rong va vào ngõ phố (“Phố đêm”)...” (ngưng trích)

Tuyệt vời là thi ca.

Chỉ một đêm thôi.. sao mặn mà thế nhỉ. Giữa thân thể chúng ta là vực thẳm, sao cái nhìn của thi sĩ thấu suốt ba cõi như thế.

Và em bé bưng tuổi thơ. Hiển nhiên đời buồn muốn khóc.

Xin cảm ơn các thi sĩ trên đời này.

Theo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển người giúp việc nhà tại các gia đình ở các quận nội thành rất lớn nhưng không tìm đủ người. Trước thực tế khó tìm được người giúp việc nhà ở luôn trong nhà, nhiều gia đình chuyển hướng tìm người giúp việc đến làm theo giờ. Theo họ, tuyển lao động làm việc theo giờ có nhiều cái lợi như đỡ phải lo ăn, ở và chi phí thấp hơn nhiều.
Theo báo Người Lao Động, hơn 1 năm trở lại đây, tranh được bày bán ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đột ngột rớt giá, nguyên nhân là bởi hiện tượng tranh nhái tràn lan. Theo 1 họa sĩ có thâm niên trên 35 năm trong nghề, 5 năm trước đây các phòng tranh ở Hội An không có tranh nhái. Du khách rất an tâm khi mua tranh và tranh bán cũng rất chạy.
Theo báo SGGP, tại Sài Gòn, mỗi năm có thêm hàng ngàn phòng học mới nhưng các cơ quan ngành giáo dục tại các quận, huyện năm nào cũng than thiếu phòng học, người dân phiền vì sĩ số học sinh của các lớp học đã "quá tải". Trình bày về hiện trạng trường lớp tại các quận, huyện của SG, báo SGGP ghi nhận rằng chỉ trừ một vài huyện ngoại thành không bị áp lực tăng dân số
Tại miền Đông Nam phần, có xã Phú Lộc là một trong nhiều xã ở huyện Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) là "miền đất hứa" của bò cạp. Ở vùng đất đá này, bò cạp sinh sôi nhiều đến mức người dân địa phương có thể tìm thấy chúng bất kỳ chỗ nào, nhất là dưới các tảng đá lớn.Trước đây, cứ sau mỗi trận mưa to là bò cạp "tung tăng" khắp nơi, người dân phải tránh.
Theo ghi nhận của báo SGGP, tại miền Tây Nam phần VN, xăng dầu, đường cát, hàng điện máy, điện thoại di động, thuốc lá, vải... ở khu vực biên giới Việt Nam và Cam Bốt đang chênh lệch giá rất cao. Hàng lậu vì thế đang tràn về như nước lũ, xâm nhập ào ạt vào thị trường nội địa. Báo SGGP ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại các trường đại học của VN, dường như nghiên cứu khoa học chỉ là công việc "tay trái" của các giảng viên , khi trung bình cứ hai, ba giảng viên mới có một người "liên quan" đến các công trình nghiên cứu. Đa số các giảng viên làm công việc mà một số nhà giáo dục gọi là "thợ dạy". Báo TT ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, 65 năm nay tồn tại một làng mà hầu hết trai tráng sống bằng nghề lặn tìm sắt thép phế liệu. Làng lặn hiện đã trở thành khu phố, nhưng trông vẫn chẳng khác gì những ngôi làng miệt sông nước miền Tây với những chiếc ghe neo san sát dưới sông, còn trên bờ là những ngôi nhà tuềnh toàng.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong những ngày vưà qua, tại miền Tây Nam phần, đại dịch bướm đã khiến người dân tỉnh Hậu Giang thức trắng "đánh đàn" vì ngứa. Tại thị xã Vị Thanh, dịch bướm đã hoành hành từ một tháng này, nhiều người dân trong thị xã khổ vì bị bướm bám theo gây ngứa. Báo TT ghi nhận tình trạng dịch bướm tại địa phương này như sau.
Tại phường 4 quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 lớp học rất đặc biệt do 1 nữ giáo viên già phụ trách. Lớp học này là chiếc phao cứu sinh cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường, cho dù là trường bổ túc. Với 1 ngàn/buổi học, có học sinh đã học hết lớp 4, rồi vào lớp 5 bổ túc, sau đó học tiếp lên trung học. BáoNgười Lao Động viết về lớp học này như sau.
Theo báo quốc nội, trong năm 2003, công suất bia của cả VN đạt 1.29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1.37 tỷ lít. Dự kiến năm 2005 sản lượng bia của toàn VN vượt xa mức 1.5 tỷ lít. Về tình hình kinh doanh, trong những năm qua đã có hàng chục nhà máy bia địa phương được đầu tư để rồi thua lỗ, vì không chen chân tìm được chỗ đứng trên thị trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.