Hôm nay,  

Bôxít Ta Sập Bẫy Tàu

19/12/201500:00:00(Xem: 7223)
Đó là một cú lừa vĩ đại, theo lời nhiều chuyên gia. Câu hỏi là, có sự tiếp tay nào từ nội bộ Đảng CSVN để chính phủ Hà Nội bị cú lừa Bôxít?

Dự án này tầm mức phải nói là vĩ đại, theo mô tả của Wikipedia: Theo tài liệu của Liên Xô để lại, Tây Nguyên có trữ lượng bô xít khoảng 8 tỉ tấn.

Ngay từ đầu, tranh cãi đã bùng phát vì Đảng CSVN cứ nằng nặc rằng đó là chủ trương lớn -- nghĩa là, cấm bàn, cấm cãi...

Vấn đề là, khi đưa cho mây anh Trung Quốc làm, là có vấn đề an ninh, quốc phòng, hiệu quả kinh tế, hậu quả xã hội, tác động đối với môi trường sinh thái, công nghệ Trung Quốc lạc hậu, việc sử dụng lao động phổ thông Trung Quốc tại khu vực Tây Nguyên trái với Luật lao động Việt Nam.

Ngắn gọn, đó là quả bom bùn đỏ lơ lửng trên cao nguyên.

Vì cơ nguy là: Bụi bauxite sẽ phát tán trong quá trình khai thác và trong quá trình vận chuyển là bụi độc, loại hạt nhỏ, có thể phát tán đến hàng trăm km, ảnh hưởng nặng đến dân của toàn thành phố Bảo Lộc và huyện Đắc Nông và toàn bộ dân cư dọc các tuyến quốc lộ dùng chở bauxite từ Bảo Lộc đến Vũng Tàu. Tiền thuốc ước tính đến hàng trăm tỷ đồng/năm.

Báo Tuổi Trẻ ngày 29/03/2015 có bản tin nêu nghi vấn: “Dự án bôxit: TKV đã “sập bẫy giá rẻ”?”

Bản tin này nói rằng vào ngày 28-3, tại buổi tọa đàm về dự án bôxit, nhiều chuyên gia đã khẳng định Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN (TKV) đã “sập bẫy” giá rẻ, nhưng càng làm càng thua lỗ nặng.

Và bây giờ, tức là gần 10 tháng sau buổi tọa đàm trên... các chuyên gia còn cho thấy rõ hơn, rằng dự án bôxit là cú lừa vĩ đại.

Báo Tuổi Trẻ ngày 18/12/2015 có bản tin tựa đề “Dự án bôxit “sập bẫy” nhà thầu Trung Quốc ra sao?”

Nơi đây, các chuyên gia nói thẳng, nói thật, và cũng lời tố cáo cái gọi là “trí tuệ ưu việt” của Đảng CSVN khi chọn đó là “chủ trương lớn”...

Bản tin này trích như sau:

“...“Nếu sản xuất đủ 660.000 tấn theo kế hoạch thì tổng lỗ năm 2015 của Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ khoảng 37,4 triệu USD”.

Các dự án bôxit hiện đang có nguy cơ rủi ro cao. Đặc biệt, nếu không có những biện pháp giải quyết kịp thời thì mức độ rủi ro này sẽ ngày càng gia tăng.

Nhiều chuyên gia đã nhận định chủ đầu tư là Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (TKV) đã “sập bẫy” của nhà thầu Trung Quốc.

“Chết” ngay từ khi đấu thầu

Theo tiến sĩ (TS) Nguyễn Thành Sơn - nguyên giám đốc Ban quản lý dự án than đồng bằng sông Hồng, Luật đấu thầu của VN quy định ngay cả khi chọn thầu, chủ đầu tư phải soạn thảo hồ sơ mời thầu và phải được cấp thẩm quyền phê duyệt.


Ông Sơn cho biết với những dự án lớn như Tân Rai và Nhân Cơ thì thông thường phải thuê tư vấn làm hồ sơ mời thầu, thiết kế kỹ thuật, đánh giá hồ sơ. Tuy nhiên, trường hợp này TKV đã tự mình làm mọi thứ.

Trên lý thuyết, khi TKV tự làm thì sẽ tiết kiệm chi phí tư vấn, tức khoảng 5% tổng giá trị gói thầu, tương đương 695 tỉ đồng. Nhưng trên thực tế, TKV đã công bố phí quản lý và tư vấn dự án lên gần 800 tỉ đồng.

Ông Sơn cho rằng: “TKV đã tự mình mắc lừa, tự sập bẫy của chính mình. Tưởng làm lấy sẽ rẻ, nhưng cuối cùng lại không rẻ”.

Ông Nguyễn Văn Ban - nguyên trưởng ban alumin (Tổng công ty Khoáng sản VN) - trình bày: “Ở một hội thảo diễn ra năm 2009 đã chỉ ra những nguy cơ về hiệu quả kinh tế của các dự án này, nhất là với nhà máy Nhân Cơ”.

Ông Ban cho biết nhà thầu Trung Quốc đã bỏ thầu rất thấp làm các nhà thầu ở những nước phương Tây từ bỏ. Nhưng đến khi chúng ta làm việc cùng họ để ký hợp đồng thì giá bỏ thầu và giá trên hợp đồng là khác nhau.

“Phía Trung Quốc giải thích về sự chênh lệch này là do trong giá bỏ thầu họ chưa tính đến các thiết bị dự phòng” - ông Ban dẫn lại lời lãnh đạo TKV thời đó giải thích.

TS Nguyễn Thành Sơn bổ sung trong đấu thầu bao giờ cũng có điều kiện tiên quyết là yêu cầu kinh nghiệm của nhà thầu. Theo đó, nhà thầu cho biết công nghệ được sử dụng ở nhà máy Tân Rai là công nghệ bayer - công nghệ được cho là tiên tiến nhất hiện nay.

“Tuy nhiên, điều quan trọng là các thiết bị trên dây chuyền công nghệ ấy có hiện đại hay không? Tân Rai có thể “chết” vì chính điều đấy” - TS Sơn nhấn mạnh.

Thua lỗ kéo dài

Theo TS Nguyễn Thành Sơn, chỉ riêng trong khẩu xử lý alumina đã tổn thất 30,34% lượng bôxit. Đồng nghĩa cứ 3 tỉ hoặc 10 tỉ tấn bôxit thì mất đi khoảng 1 tỉ hoặc 3 tỉ tấn.

Trên thế giới, bình quân để có 1 tấn sản phẩm thì mất 2-5 giờ công (cho toàn nhà máy). So với quy mô của Tân Rai hiện tại thì chỉ cần 250-300 lao động. Thực tế đang có hơn 1.000 lao động.

Điều này chứng tỏ trình độ tự động hóa, điều kiện tập trung của nhà máy còn rất thấp....”(ngưng trích)

Nói ngắn gọn, dính bẫy này, sẽ mất bao nhiêu?

TS Nguyễn Thành Sơn nhắc rằng hồi năm 2013, tỉ lệ thua lỗ là 20%. Năm 2014 tăng lên thành 21%. Riêng năm 2015 thì dự tính là lỗ 14% với điều kiện sản xuất đủ 660.000 tấn theo kế hoạch.

Trong khi đó, Ông Nguyễn Văn Ban nói mỗi năm mức tổn thất sẽ khoảng 40 triệu USD....

Nhưng phải có ai lời chớ? Không lẽ tiền quăng vô thùng rác? Cán bộ nào móc nối để tiên bốc hơi như thế?

Theo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển người giúp việc nhà tại các gia đình ở các quận nội thành rất lớn nhưng không tìm đủ người. Trước thực tế khó tìm được người giúp việc nhà ở luôn trong nhà, nhiều gia đình chuyển hướng tìm người giúp việc đến làm theo giờ. Theo họ, tuyển lao động làm việc theo giờ có nhiều cái lợi như đỡ phải lo ăn, ở và chi phí thấp hơn nhiều.
Theo báo Người Lao Động, hơn 1 năm trở lại đây, tranh được bày bán ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đột ngột rớt giá, nguyên nhân là bởi hiện tượng tranh nhái tràn lan. Theo 1 họa sĩ có thâm niên trên 35 năm trong nghề, 5 năm trước đây các phòng tranh ở Hội An không có tranh nhái. Du khách rất an tâm khi mua tranh và tranh bán cũng rất chạy.
Theo báo SGGP, tại Sài Gòn, mỗi năm có thêm hàng ngàn phòng học mới nhưng các cơ quan ngành giáo dục tại các quận, huyện năm nào cũng than thiếu phòng học, người dân phiền vì sĩ số học sinh của các lớp học đã "quá tải". Trình bày về hiện trạng trường lớp tại các quận, huyện của SG, báo SGGP ghi nhận rằng chỉ trừ một vài huyện ngoại thành không bị áp lực tăng dân số
Tại miền Đông Nam phần, có xã Phú Lộc là một trong nhiều xã ở huyện Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) là "miền đất hứa" của bò cạp. Ở vùng đất đá này, bò cạp sinh sôi nhiều đến mức người dân địa phương có thể tìm thấy chúng bất kỳ chỗ nào, nhất là dưới các tảng đá lớn.Trước đây, cứ sau mỗi trận mưa to là bò cạp "tung tăng" khắp nơi, người dân phải tránh.
Theo ghi nhận của báo SGGP, tại miền Tây Nam phần VN, xăng dầu, đường cát, hàng điện máy, điện thoại di động, thuốc lá, vải... ở khu vực biên giới Việt Nam và Cam Bốt đang chênh lệch giá rất cao. Hàng lậu vì thế đang tràn về như nước lũ, xâm nhập ào ạt vào thị trường nội địa. Báo SGGP ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại các trường đại học của VN, dường như nghiên cứu khoa học chỉ là công việc "tay trái" của các giảng viên , khi trung bình cứ hai, ba giảng viên mới có một người "liên quan" đến các công trình nghiên cứu. Đa số các giảng viên làm công việc mà một số nhà giáo dục gọi là "thợ dạy". Báo TT ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, 65 năm nay tồn tại một làng mà hầu hết trai tráng sống bằng nghề lặn tìm sắt thép phế liệu. Làng lặn hiện đã trở thành khu phố, nhưng trông vẫn chẳng khác gì những ngôi làng miệt sông nước miền Tây với những chiếc ghe neo san sát dưới sông, còn trên bờ là những ngôi nhà tuềnh toàng.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong những ngày vưà qua, tại miền Tây Nam phần, đại dịch bướm đã khiến người dân tỉnh Hậu Giang thức trắng "đánh đàn" vì ngứa. Tại thị xã Vị Thanh, dịch bướm đã hoành hành từ một tháng này, nhiều người dân trong thị xã khổ vì bị bướm bám theo gây ngứa. Báo TT ghi nhận tình trạng dịch bướm tại địa phương này như sau.
Tại phường 4 quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 lớp học rất đặc biệt do 1 nữ giáo viên già phụ trách. Lớp học này là chiếc phao cứu sinh cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường, cho dù là trường bổ túc. Với 1 ngàn/buổi học, có học sinh đã học hết lớp 4, rồi vào lớp 5 bổ túc, sau đó học tiếp lên trung học. BáoNgười Lao Động viết về lớp học này như sau.
Theo báo quốc nội, trong năm 2003, công suất bia của cả VN đạt 1.29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1.37 tỷ lít. Dự kiến năm 2005 sản lượng bia của toàn VN vượt xa mức 1.5 tỷ lít. Về tình hình kinh doanh, trong những năm qua đã có hàng chục nhà máy bia địa phương được đầu tư để rồi thua lỗ, vì không chen chân tìm được chỗ đứng trên thị trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.