Hôm nay,  

Cuộc Chiến Biên Giới

18/02/201600:00:00(Xem: 5583)

Hôm Thứ Tư 17-2-2016 là tròn 37 năm tưởng niệm cuộc chiến biên giới Việt-Trung bùng nổ. Nhiều người không nhớ tới, vì chính phủ Hà Nội muốn cho chuyện này lặng lẽ trôi qua, để giữ gìn “hòa khí” với đàn anh Bắc Kinh.

Dưới đây xin ghi sơ lược về Cuộc chiến biên giới Việt -Trung 1979 để tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến giữ đất.

Hãy hình dung, nếu Trung Quốc chiến thắng năm 1979... một hình ảnh kinh hoàng.

Sơ lược sau đây viết ngắn gọn theo Wikipedia.

Cuộc chiến kéo dài từ 17 tháng 2 tới ngày 16 tháng 3 năm 1979.

Chiến trường: Toàn tuyến biên giới phía bắc của Việt Nam.

Kết quả: Cả hai phía tuyên bố chiến thắng. Trung Quốc rút quân.

Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa...

Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3...

Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục vụ cho chiến dịch.[48], chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động....

Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện.[50] Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.[46] Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào trung châu. Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân....

Tướng Ngũ Tu Quyền, phó tổng tư lệnh Quân giải phóng Trung Quốc, tuyên bố rằng số quân Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000, trong khi con số tương ứng của Trung Quốc là 20.000. Một nguồn khác của Trung Quốc thống kê tổn thất của quân Trung Quốc là 8.531 chết và khoảng 21.000 bị thương.

Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút. Russell D. Howard cho rằng quân Trung Quốc thương vong 60.000 người, trong đó số chết là 26.000, một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc. Nguồn của King Chen nói rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc.

Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này phía Trung Quốc là trên 20.000). Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000 quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn...

Hãy nhìn vê một hướng khác, các con số không nói về những đau đớn ở hai bên hậu phương: những bà mẹ mất con, những cô gái mất chồng, và những đứa trẻ mất cha... Xin góp lời cầu nguyện cho tất cả chúng sinh cõi này xa lìa khô đau.

Và hãy nhớ mãi lời Vua Trần Nhân Tông: không được để mất một tấc đất nào...

Ông bà mình nêu lên hình ảnh “voi giày ngựa xéo” là chỉ cái thế bất lực, yếu đuối của người dân trước cường quyền.
Một trong những thứ dư thừa ở Việt Nam là tai nạn lao động. Kể cả, lao động trong luồng hay ngoaì luồng, lao động quốc doanh hay tư doanh,
Lâu lâu gặp những câu hỏi tuyệt vời, lòng vui không thể tả.
Bài của tác giả Minh Thạnh, từ thống tấn PTVN và đăng lại ở trang web của Chùa Phúc Lâm,
Chuyện hy hữu, cực kỳ hy hữu: một anh người Đức rời bỏ quê hương để vào Việt Nam, xin vào chùa tu.
Tang lễ của bác Nguyễn Thị Lợi, mẹ của nhà hoạt động dân chủ Phạm Thanh Nghiên, đã hoàn tất.
Đó là ngôi chùa nổi tiếng vì nhiều chuyện huyền bí xảy ra. Nơi đó, có tiếng khóc, tiếng cười lúc nửa đêm của trẻ em...
Hẳn nhiên, không thể mơ chuyện toàn hảo được. Nhưng hãy suy nghĩ xem, vì sao thời trước 1975,
Đó là hình ảnh tưởng như chỉ gặp qua truyện cổ tích: trong khi một ni sư ngồi thiền, cọp tới nằm bên canh giữ.
Sự thật là thế: chỉ có cán bộ mới cần văn bằng giả. Nghĩa là, bằng giả là điều kiện cần, tuy chưa đủ,
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.