Hôm nay,  

Đọc Thơ Tô Đông Pha

07/01/201700:00:00(Xem: 7101)
Những phương trời viễn mộng... đó là những chữ do nhà thơ thiền sư Tuệ Sỹ nhận định về Tô Đông Pha, một nhà thơ cổ thời Trung Hoa, và cũng tuyệt vời sương khói.

Đúng ngày 8 tháng 1 là ngày sinh của Tô Đông Pha. Ông sinh năm 1037, tức 19 tháng 12 năm Bính Tý -- và mất vào năm 1101.

Tên thực là Tô Thức (8/1/1037–24/8/1101), tự Tử Chiêm, một tự khác là Hòa Trọng, hiệu Đông Pha cư sĩ nên còn gọi là Tô Đông Pha, là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc thời Tống. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.

Ông sinh ra tại Mi Sơn, Mi Châu, nay là địa cấp thị Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Ông nội Đông Pha tên là Tô Tự, cha ông là Tô Tuân (tự là Minh Doãn, 1009-1066), mẹ ông họ Trình (?-1057) và em trai là Tô Triệt (tự là Tử Do, 1039-1112). Ba cha con ông đều là những nhà thơ có tiếng.

Tự điển Bách khoa Mở ghi rằng Đông Pha cùng cha và em là ba trong số tám đại văn hào lớn nhất (bát đại gia) Trung Quốc suốt bảy thế kỷ từ thế kỷ 7 đến 13. Ông giỏi cả cổ văn lẫn thơ, phú. Tất cả các tác phẩm của ông cộng lại khoảng 1 triệu chữ. Riêng về thi từ, ông có khoảng 1700 bài. Còn cổ văn của ông là "thiên hạ vô địch", cứ hạ bút là thành văn, không cần lập dàn ý, cứ như là "hành vân, lưu thủy". Âu Dương Tu mà hôm nào nhận được một bài văn của ông thì vui sướng cả ngày, còn vua Tống Thần Tông hay đọc bài của ông trong bữa ngự thiện, quên gắp cả thức ăn.

Trong tác phẩm “Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng” của nhà thơ thiền sư Tuệ Sỹ, có ghi lại một số sự tích về Đông Pha, trong đó có những liên hệ với các thiền sư nổi tiếng đương thời, trích:

“Phật Ấn Liễu Nguyên, hiệu Giác Lão. Lúc Đông Pha bị biếm trích ở Hoàng châu, thì sư trụ ở chùa Qui tông, Lô sơn. Hoàng châu và Qui tông đối ngạn, nên ông và sư thường hay qua lại giao thiệp, trao đổi làm thơ, đi ngoạn cảnh.

Sau sư dời sang ở chùa Kim sơn. Một hôm, ông đến thăm vào lúc sư đang giảng kinh cho tăng trong chùa. Họ đứng hai hàng để nghe.

Ông đến, sư nói: "Nơi đây không có giường ghế. Cư sĩ đến, biết ngồi đâu bây giờ?"

Ông bảo: "Vậy thì muợn đỡ tứ đại của Phật Ấn làm giường ngồi." Nghĩa là, ông mượn cái thân tứ đại của Phật Ấn làm giường ngồi.

Phật Ấn nói: "Sơn tăng này có một câu hỏi, nếu thí chủ đáp được, sẽ theo lời cho mượn thân tứ đại này làm giường ngồi. Nếu không, xin để lại sợi ngọc đái làm vật trấn sơn môn."

Ngọc đái là giải dây buộc ngang lưng của bậc thượng lưu thời đó, được đem ra đánh cuộc, để làm bửu vật trấn giữ cửa chùa. Ông liền cởi ngay giải dây đặt lên bàn. Sư hỏi: "Tứ đại giai không, ngũ uẩn phi hữu. Cư sĩ muốn ngồi vào đâu? " Ông ngẫm nghĩ, chưa kịp trả lời, thì sư đã gọi gấp thị giả mang sợi đái đi cất, để làm vật trấn sơn môn. Ông làm ngay hai bài thơ tặng sư (trích một bài đọc chơi):

Bịnh cốt nan kham ngọc đái vi
Độn căn nhưng lạc tiễn phong ki
Dục giao khất thực ca cơ viện
Cố dữ sơn vân cựu nạp y.

Dịch:

Xương gầy giải ngọc buộc sao vô?
Hồ đồ thấp trí chịu thua cơ.
Những mong kiếm chác trò con hát;
Nay để làm duyên với cửa chùa.

Chuyện đó trở thành cái giai thoại mà người ta truyền tụng là "Ngọc đái trấn sơn môn" rất thịnh hành.

Năm ông 49 tuổi. Kể từ khi bị biếm trích ra Hoàng châu đến bây giờ, là đã hơn bốn năm. Tháng 4 năm đó, Giáp tý (1084), ông được lệnh phải dời sang ở Nhữ châu. Trên đường đi Nhữ châu, ông gặp Tử Do ở Quân châu. Lúc này, Tử Do ở Quân châu; sư Vân Am ở chùa Động sơn; Thông thiền sư, người đất Thục, ngụ tại chùa Thọ thánh. Tối đó, cả ba người cùng thấy một giấc mộng giống nhau. Họ thấy đi đón Ngũ Tổ Sư Giới hòa thượng. Sư Giới là một thiền sư đời thứ 9 của dòng thiền Huệ Năng. Cả ba cùng vỗ tay cười lớn: "Thế gian quả có chuyện đồng mộng, lạ thay!" Ít lâu, thư của ông đến báo tin là ông đã tới Phụng tân, sẽ gặp nhau trong sớm tối. Ba người cùng ra ngoài 20 dặm chùa Kiến sơ thì gặp ông. Mỗi người lần lượt kể giấc mộng của mình. Ông mới nói: "Tôi hồi 7, 8 tuổi, có lần nằm mộng thấy mình làm tăng, qua lại bên Thiểm hữu."

Sư Vân Am cả kinh, nói: "Sư Giới là người ở Thiểm hữu. Tuổi về già, bỏ chùa Ngũ tổ đến dạo ở Cao an, sau mất tại chùa Đại ngu. Tính ngược lại, đã đúng 50 năm." Bấy giờ ông 49 tuổi. Vậy, đại khái, đời trước ông là thiền sư Ngữ tổ Sư Giới. Nhưng nghe nói Sư Giới đã tỏ ngộ đạo thiền, đã đắc đạo, sao thác sinh ra ông lại phải trải qua một kiếp lao đao đày ải như thế?

Ông bị đày xuống Quảng đông, rồi Hải nam, từ năm 59 tuổi, cho đến 66 tuổi thì được tha về.

Trong thời gian này, ông quen thân với sư Trùng Biện. Ông viết dật sự của sư Trùng Biện, tức Nam Hoa trưởng lão.

"Thiền sư Khế Tung thường sân; người ta chưa từng thấy sư cười. Sư Hải Nguyệt Biện thường vui, người ta chưa từng thấy sư giận. Tôi ở Tiền đường, chính mắt thấy hai vị đó đều ngồi kiết già mà hóa (chết). Khế Tung đã trà tì (thiêu xác), mà lửa không hủy hoại. Thêm củi cho lửa đỏ đến năm lần mới thôi. Hải Nguyệt đến khi táng mà gương mặt vẫn tươi như còn sống, lại còn cười nụ.

"Thế mới biết, hai người lấy cái sân và cái hỉ mà làm Phật sự vậy.

"Người đời coi thân hình như vàng ngọc, không để cho gót chân dính bụi. Bậc Chí nhân thì ngược lại. Tôi lấy đó mà biết rằng, hết thảy các Pháp đều do ái mà hoại; do xả mà thường. Há không phải vậy sao?

Tôi từ Hải nam trở về, thì Trùng Biện tịch đã lâu. Qua Nam hoa điếu. Hỏi chúng tăng ở đó về chỗ mộ tháp của Sư. Họ bảo: "Thầy tôi xưa đã có làm thọ tháp, về phía đông Nam hoa vài dặm. Có người không ưa thầy, nên táng ở mộ khác. Đã hơn bảy trăm ngày rồi. Nay Trưởng lão Minh Công ra sức một mình, dời về thọ tháp. Thay quan, đổi áo, thấy trọn cả thân thể vẫn như đang còn sống; áo vẫn tươi và thơm. Mọi người hỗ thẹn và kỉnh phục."

"Đông Pha cư sĩ nói: Trùng Biện coi thân là vật gì? Vứt nó vào rừng Thi đà để nuôi chim, nuôi quạ, đâu có sự để ở thọ tháp cho an ổn. Vì là, Minh công là người biết rõ Trùng Biện, nên đặc biệt muốn lấy sự họa phúc đồng dị mà thôi.

"Tôi mới đem trà, quả đến cúng ở tháp sư, rồi viết lại sự việc đó để gởi cho thượng túc đệ tử của sư là sư Khả Hưng. Nam hoa tháp chủ.

"Bấy giờ, niên hiệu Nguyên phù thứ 3 (1100), tháng 12, ngày 19."...”(ngưng trích)

Càng đọc càng thấy từ thơ tới văn của họ Tô hay dị thường. Do vậy, đứng nhìn lại từ thế kỷ 21, xin có mấy dòng thơ đề tặng người xưa:

Tô Đông Pha tuyệt vời
Đời sau dễ mấy người
Đai ngọc còn trên giấy
Nét mực tươi không lời.

Theo báo quốc nội, tại thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển nữ sinh viên giúp việc nhà đang nổi lên, chiếm đến 20% số việc làm thời vụ như tiếp thị, dạy kèm, bán hàng, phát bướm... Sinh viên cũng nhanh chóng thích ứng với cái nghề vốn không được xem trọng. Báo Sài Gòn Tiếp Thị ghi nhận về tình cảnh mưu sinh của nữ sinh viên giúp việc nhà như sau.
Theo báo Thanh Niên, trong khu vực huyện đảo Cát Hải thuộc vùng biển Hải Phòng, có một ngôi làng nghèo đến kỳ lạ :không có chợ; một nhà mổ lợn, cả làng đến ăn. Cửa các nhà không bao giờ khoá vì không có một mống trộm cắp. Để vào được làng mà áo quần khô ráo, phải "thoát y" lội qua quãng ngập. Báo TN ghi chuyện lạ về làng này như sau.
Theo báo quốc nội, vào thượng tuần tháng 6 vưà qua, trên địa bàn quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, đã xảy ra một vụ công nhân đập phá trụ sở 1 công ty sản xuất giày. Theo các nhân chứng, vụ việc xuất phát từ khu vực nhà ăn của công ty này. Các công nhân đồng loạt bỏ ăn, hất đổ đồ ăn xuống đất và một số người bắt đầu đập phá. Vụ việc gây náo loạn cả khu vực
Theo báo quốc nội, tại tỉnh Nam Định, có 1 ngôi làng mà 80% dân số biết sử dụng ít nhất một loại nhạc cụ, mỗi đứa trẻ đều là một nhạc công. Trong làng có nhiều "nghệ sĩ" không qua trường lớp nào, nhưng lại rất sành âm nhạc. Nhiều gia đình vì quá mê âm nhạc đã đem bán cả ruộng đất, để có tiền mua đàn. Báo Thiếu Niên Tiền Phong viết về làng này như sau.
Tại vùng sông nước của miền Tây Nam phần, do hình thái địa lý và nhu cầu thương mại, nhiều ngôi chợ nổi trên sông đã hình thành. Một trong những chợ luôn tấp nập người buôn bán là chợ nổi Cái Răng gần thành phố Cần Thơ.Theo các nhà nghiên cứu nhân văn, chợ nổi, ngay cái tên cũng đã thể hiện sự mộc mạc, chân chất của con người phương Nam. Báo QĐNN viết về chợ nổi Cái Răng như sau.
Theo báo quốc nội, Quảng Nam được biết đến như là một trong những "cái nôi của nghệ thuật tuồng". Hành trình Trò bội - Hát tuồng - Nghệ thuật tuồng là một quá trình chiết lọc, tích lũy trải qua mấy trăm năm. Thế nhưng hiện nay, những tinh hoa ấy dường như đang mai một. Báo SGGP viết như sau. Hiện nay chỉ có một gánh hát tuồng duy nhất sống được nhờ biểu diễn là gánh hát Sông Thu (huyện Duy Xuyên).
Tại Sài Gòn, quán nhậu, bida không còn là chốn dành riêng cho nam giới và việc "cắm quán, ngồi đồng" không chỉ là "đặc quyền" của phái mạnh. Hiện nay, khách cũng đã quen mắt với hình ảnh các cô gái thường trực ở những quán cà phê hàng giờ liền. Những lý do của họ cũng "muôn màu muôn vẻ". Báo Phụ Nữ Chủ Nhật viết như sau.
Chỉ còn 1 tháng nữa là đến mùa thi tuyển sinh viên vào các trường đại học, cao đẳng trong nước. Vào những ngày này, tại nhiều khu vực gần các trường Đại học, ký túc xá, khu nhà tập thể của nhân viên ngành giáo dục tại Hà Nội, dịch vụ bán tài liệu thu nhỏ để thí sinh mang lén vào phòng thi mà giới học sinh gọi là "phao" đã hoạt động mạnh, khách hàng tấp nập.
Trong các món ăn đặc biệt của ba miền Việt Nam, đã bao đời, hầu như ít có người hiểu rõ ngọn nguồn của mắm kho, chỉ biết đó là món ăn gia đình của người nông dân miền Nam nơi xóm ấp đồng quê. Câu ca xưa khắc họa sự tần tảo, chịu khó trong lối sống đạm bạc, dân dã của người nông dân vùng sông nước: "Một đời bông súng mắm kho, ngày đêm lam lũ nỗi lo bưng biền".
Theo báo Tuổi Trẻ, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế, hàng ngàn gia đình cư dân vùng đầm Cầu Hai và ven biển đang nơm nớp lo âu cho sự sống của mình khi con đường vào ra biển, nơi lấy nước biển và cũng là nơi thoát lũ cho cả vùng đất của hai huyện Phú Lộc và Phú Vang, chẳng bao lâu nữa bị đóng chặt. Báo Tuổi Trẻ viết như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.