Hôm nay,  

Đọc Thơ Tô Đông Pha

07/01/201700:00:00(Xem: 7093)
Những phương trời viễn mộng... đó là những chữ do nhà thơ thiền sư Tuệ Sỹ nhận định về Tô Đông Pha, một nhà thơ cổ thời Trung Hoa, và cũng tuyệt vời sương khói.

Đúng ngày 8 tháng 1 là ngày sinh của Tô Đông Pha. Ông sinh năm 1037, tức 19 tháng 12 năm Bính Tý -- và mất vào năm 1101.

Tên thực là Tô Thức (8/1/1037–24/8/1101), tự Tử Chiêm, một tự khác là Hòa Trọng, hiệu Đông Pha cư sĩ nên còn gọi là Tô Đông Pha, là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc thời Tống. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.

Ông sinh ra tại Mi Sơn, Mi Châu, nay là địa cấp thị Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Ông nội Đông Pha tên là Tô Tự, cha ông là Tô Tuân (tự là Minh Doãn, 1009-1066), mẹ ông họ Trình (?-1057) và em trai là Tô Triệt (tự là Tử Do, 1039-1112). Ba cha con ông đều là những nhà thơ có tiếng.

Tự điển Bách khoa Mở ghi rằng Đông Pha cùng cha và em là ba trong số tám đại văn hào lớn nhất (bát đại gia) Trung Quốc suốt bảy thế kỷ từ thế kỷ 7 đến 13. Ông giỏi cả cổ văn lẫn thơ, phú. Tất cả các tác phẩm của ông cộng lại khoảng 1 triệu chữ. Riêng về thi từ, ông có khoảng 1700 bài. Còn cổ văn của ông là "thiên hạ vô địch", cứ hạ bút là thành văn, không cần lập dàn ý, cứ như là "hành vân, lưu thủy". Âu Dương Tu mà hôm nào nhận được một bài văn của ông thì vui sướng cả ngày, còn vua Tống Thần Tông hay đọc bài của ông trong bữa ngự thiện, quên gắp cả thức ăn.

Trong tác phẩm “Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng” của nhà thơ thiền sư Tuệ Sỹ, có ghi lại một số sự tích về Đông Pha, trong đó có những liên hệ với các thiền sư nổi tiếng đương thời, trích:

“Phật Ấn Liễu Nguyên, hiệu Giác Lão. Lúc Đông Pha bị biếm trích ở Hoàng châu, thì sư trụ ở chùa Qui tông, Lô sơn. Hoàng châu và Qui tông đối ngạn, nên ông và sư thường hay qua lại giao thiệp, trao đổi làm thơ, đi ngoạn cảnh.

Sau sư dời sang ở chùa Kim sơn. Một hôm, ông đến thăm vào lúc sư đang giảng kinh cho tăng trong chùa. Họ đứng hai hàng để nghe.

Ông đến, sư nói: "Nơi đây không có giường ghế. Cư sĩ đến, biết ngồi đâu bây giờ?"

Ông bảo: "Vậy thì muợn đỡ tứ đại của Phật Ấn làm giường ngồi." Nghĩa là, ông mượn cái thân tứ đại của Phật Ấn làm giường ngồi.

Phật Ấn nói: "Sơn tăng này có một câu hỏi, nếu thí chủ đáp được, sẽ theo lời cho mượn thân tứ đại này làm giường ngồi. Nếu không, xin để lại sợi ngọc đái làm vật trấn sơn môn."

Ngọc đái là giải dây buộc ngang lưng của bậc thượng lưu thời đó, được đem ra đánh cuộc, để làm bửu vật trấn giữ cửa chùa. Ông liền cởi ngay giải dây đặt lên bàn. Sư hỏi: "Tứ đại giai không, ngũ uẩn phi hữu. Cư sĩ muốn ngồi vào đâu? " Ông ngẫm nghĩ, chưa kịp trả lời, thì sư đã gọi gấp thị giả mang sợi đái đi cất, để làm vật trấn sơn môn. Ông làm ngay hai bài thơ tặng sư (trích một bài đọc chơi):

Bịnh cốt nan kham ngọc đái vi
Độn căn nhưng lạc tiễn phong ki
Dục giao khất thực ca cơ viện
Cố dữ sơn vân cựu nạp y.

Dịch:

Xương gầy giải ngọc buộc sao vô?
Hồ đồ thấp trí chịu thua cơ.
Những mong kiếm chác trò con hát;
Nay để làm duyên với cửa chùa.

Chuyện đó trở thành cái giai thoại mà người ta truyền tụng là "Ngọc đái trấn sơn môn" rất thịnh hành.

Năm ông 49 tuổi. Kể từ khi bị biếm trích ra Hoàng châu đến bây giờ, là đã hơn bốn năm. Tháng 4 năm đó, Giáp tý (1084), ông được lệnh phải dời sang ở Nhữ châu. Trên đường đi Nhữ châu, ông gặp Tử Do ở Quân châu. Lúc này, Tử Do ở Quân châu; sư Vân Am ở chùa Động sơn; Thông thiền sư, người đất Thục, ngụ tại chùa Thọ thánh. Tối đó, cả ba người cùng thấy một giấc mộng giống nhau. Họ thấy đi đón Ngũ Tổ Sư Giới hòa thượng. Sư Giới là một thiền sư đời thứ 9 của dòng thiền Huệ Năng. Cả ba cùng vỗ tay cười lớn: "Thế gian quả có chuyện đồng mộng, lạ thay!" Ít lâu, thư của ông đến báo tin là ông đã tới Phụng tân, sẽ gặp nhau trong sớm tối. Ba người cùng ra ngoài 20 dặm chùa Kiến sơ thì gặp ông. Mỗi người lần lượt kể giấc mộng của mình. Ông mới nói: "Tôi hồi 7, 8 tuổi, có lần nằm mộng thấy mình làm tăng, qua lại bên Thiểm hữu."

Sư Vân Am cả kinh, nói: "Sư Giới là người ở Thiểm hữu. Tuổi về già, bỏ chùa Ngũ tổ đến dạo ở Cao an, sau mất tại chùa Đại ngu. Tính ngược lại, đã đúng 50 năm." Bấy giờ ông 49 tuổi. Vậy, đại khái, đời trước ông là thiền sư Ngữ tổ Sư Giới. Nhưng nghe nói Sư Giới đã tỏ ngộ đạo thiền, đã đắc đạo, sao thác sinh ra ông lại phải trải qua một kiếp lao đao đày ải như thế?

Ông bị đày xuống Quảng đông, rồi Hải nam, từ năm 59 tuổi, cho đến 66 tuổi thì được tha về.

Trong thời gian này, ông quen thân với sư Trùng Biện. Ông viết dật sự của sư Trùng Biện, tức Nam Hoa trưởng lão.

"Thiền sư Khế Tung thường sân; người ta chưa từng thấy sư cười. Sư Hải Nguyệt Biện thường vui, người ta chưa từng thấy sư giận. Tôi ở Tiền đường, chính mắt thấy hai vị đó đều ngồi kiết già mà hóa (chết). Khế Tung đã trà tì (thiêu xác), mà lửa không hủy hoại. Thêm củi cho lửa đỏ đến năm lần mới thôi. Hải Nguyệt đến khi táng mà gương mặt vẫn tươi như còn sống, lại còn cười nụ.

"Thế mới biết, hai người lấy cái sân và cái hỉ mà làm Phật sự vậy.

"Người đời coi thân hình như vàng ngọc, không để cho gót chân dính bụi. Bậc Chí nhân thì ngược lại. Tôi lấy đó mà biết rằng, hết thảy các Pháp đều do ái mà hoại; do xả mà thường. Há không phải vậy sao?

Tôi từ Hải nam trở về, thì Trùng Biện tịch đã lâu. Qua Nam hoa điếu. Hỏi chúng tăng ở đó về chỗ mộ tháp của Sư. Họ bảo: "Thầy tôi xưa đã có làm thọ tháp, về phía đông Nam hoa vài dặm. Có người không ưa thầy, nên táng ở mộ khác. Đã hơn bảy trăm ngày rồi. Nay Trưởng lão Minh Công ra sức một mình, dời về thọ tháp. Thay quan, đổi áo, thấy trọn cả thân thể vẫn như đang còn sống; áo vẫn tươi và thơm. Mọi người hỗ thẹn và kỉnh phục."

"Đông Pha cư sĩ nói: Trùng Biện coi thân là vật gì? Vứt nó vào rừng Thi đà để nuôi chim, nuôi quạ, đâu có sự để ở thọ tháp cho an ổn. Vì là, Minh công là người biết rõ Trùng Biện, nên đặc biệt muốn lấy sự họa phúc đồng dị mà thôi.

"Tôi mới đem trà, quả đến cúng ở tháp sư, rồi viết lại sự việc đó để gởi cho thượng túc đệ tử của sư là sư Khả Hưng. Nam hoa tháp chủ.

"Bấy giờ, niên hiệu Nguyên phù thứ 3 (1100), tháng 12, ngày 19."...”(ngưng trích)

Càng đọc càng thấy từ thơ tới văn của họ Tô hay dị thường. Do vậy, đứng nhìn lại từ thế kỷ 21, xin có mấy dòng thơ đề tặng người xưa:

Tô Đông Pha tuyệt vời
Đời sau dễ mấy người
Đai ngọc còn trên giấy
Nét mực tươi không lời.

Thời gian gần đây, tại các khu vực cư dân bị giải tỏa, các công trình xây dựng trên địa bàn TPSG, luôn có một số người thường xuyên túc trực nhằm tìm kiếm những món đồ bị vứt đi. Được xem là "giới quí tộc" trong nghề ve chai, thành phần này rất kén đồ để nhặt, họ chỉ chọn những thứ có giá để đem bán cho các lái thương, chủ vựa thu mua phế liệu, hàng cũ.
Tại tỉnh Bạc Liêu có 1 khu vực được cư dân địa phương gọi là "khu đất hoàng gia". Đó là tên gọi từ người dân hai xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, đặt cho khu đất thuộc rừng phòng hộ ven biển của xã Vĩnh Thịnh. Các cán bộ có đất đã cho người dân mướn lại để thu mỗi năm hàng trăm triệu đồng. Báo Tuổi Trẻ viết như sau.
Tại miền Tây Nam phần, cư dân sống ở các khu vực ven rừng đang phải đối mặt với hiểm họa cháy rừng. Tại khu rừng U Minh hạ, trong tháng 4 này, nắng như chụp lên những thân tràm. Dưới các dòng kênh mang màu sẫm đặc trưng của rừng, nước sắp sửa cạn, có nơi chỉ còn chưa đầy 0,5m. U Minh hạ bây giờ chỉ cần một tàn thuốc rơi vô ý là có thể gây ra thảm họa cháy rừng.
Theo báo quốc nội, ngày 7/4/2005 vưà qua, Công an CSVN Hà Nội đã phát giác 1 đường dây chuyên sử dụng các hình thức làm giả giấy tờ, văn bằng, sử dụng con dấu giả, tổ chức thi hộ, thi kèm… để đưa người vào các trường đại học, cao đẳng tại thành phố HN. Tại nhà can phạm cầm đầu đường dây, Công an CSVN đã tìm thấy 35 con dấu các loại được chế tác thủ công bằng gỗ và sắt
Cách đây một năm, báo quốc nội loan tin bộ sách dịch "Nghìn lẻ một đêm" của dịch giả Phan Quang đã bị 1 người đạo văn tên là Trịnh Xuân Hoành chôm gần nguyên bản dịch. Người đạo văn đã đến tận nhà riêng xin lỗi người dịch. Giám đốc Nhà Xuất bản công khai nhận lỗi trên báo. Vụ đạo văn "khép lại" theo cách xử sự ít nhiều có văn hóa của các bên.
Theo báo quốc nội, khô hạn và nắng nóng ngày càng diễn ra gay gắt, người dân TPSG đang đối mặt với tình trạng thiếu nước sạch để sử dụng. Để có nước sinh hoạt hàng ngày, người dân phải mua lại với giá cao.Tình trạng này không chỉ khiến người dân than trời mà ban giám đốc các chi nhánh cấp nước cũng khốn đốn vì nguồn nước cung cấp cho các chi nhánh đang giảm dần
Theo một nhà nghiên cứu "văn hóa ẩm thực", tại Huế, uống cà phê vỉa hè đã là một phần nhịp thở đầu ngày của đời sống Huế. Bởi người ta uống cà phê vỉa hè không đơn thuần là uống cà phê, mà là uống cái hồn Huế. Báo Net Cô Đô viết như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, tại các khu công nghiệp ở Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, đại đa số công nhân phải tự tìm chỗ trọ tại các phường, xã gần khu vực nhà máy. Từ nhu cầu này, nhiều khu nhà trọ, làng công nhân đã hình thành. Báo Hà Nội Mới viết về 1 làng công nhân bên sông Hồng qua đoạn ký sự như sau.
Khánh Hòa là xứ Trầm hương. Trầm hương Khánh Hòa đã đi vào sử sách. Bởi ngày xưa, vùng đất này có mật độ trầm hương dày đặc. Qua thời gian khai thác, trầm hương trên rừng núi Khánh Hòa hầu như không còn nữa. Gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân bắt đầu trồng lại cây dó, kích ứng cho nó tạo trầm. Báo Khánh Hòa viết về chuyện đi tìm trầm ở Khánh Hòa qua đoạn ký sự như sau.
Trong tháng 3 vưà qua, giá dầu diesel tại VN tăng vọt, biến động theo giá dầu thị trường thế giới. Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho các công ty vận tải giao thông, các công ty công nghiệp ,mà làm tăng thêm gáng nặng cho các ngư dân có ghe tàu đánh cá ở biển. Báo Tuổi Trẻ ghi nhận những khó khăn mà ngư dân ở miền Tây đang phải đối đầu khi gía dầu tăng cao như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.