Hôm nay,  

Nhà Văn Vũ Khắc Khoan

26/02/201720:25:00(Xem: 4563)
Trong tuần này có một ngày đáng ghi nhớ: ngày 27-2-1917 là sinh nhật của nhà văn Vũ Khắc Khoan.

Ông là một kỹ sư, nhưng nổi tiếng nhờ các tác phẩm nghệ thuật. Ông viết truyện ngắn, soạn kịch, nghiên cứu Phật học, và bản thân ông đã thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam ở Minnesota.

Tác phẩm của Vũ Khắc Khoan có giá trị đặc biệt, thơ mộng nhưng tha thiết, đau xót với những băn khoăn của ngươì trí thức thời loạn, và rồi mang nét cổ kính nghiêm túc khi nói về Phật giáo. Nơi đây, xin hiệu đính một bài năm xưa để tưởng nhớ nhà văn họ Vũ.

Vũ Khắc Khoan sinh ngày 27 tháng 2, 1917 tại Hà Nội.

Mất ngaỳ 12 tháng 9, 1986 (69 tuổi).

Ông sinh tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh nông. Ông tốt nghiệp kỹ sư canh nông sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Ông là tác giả những vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948), Thành Cát Tư Hãn, và Giao thừa (1949). Hai vở Giao thừa và Thằng Cuội đã được trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội vào những năm 1951 và 1952. Bài vở của ông cũng được đăng trên báo Phổ thông và Quan điểm.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam ông đóng góp cho các báo Tự do, Quan điểm rồi chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ ở Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn.

Ông tỵ nạn sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota rồi mất tại đó. Trong thời gian tại Mỹ ông thành lập Hội Phật giáo Việt Nam ở Minnesota.

Nhà phê bình Thụy Khuê trong bài viết “Vũ Khắc Khoan, con ngưòi và tác phẩm” trên đaì RFI năm 2008 đã ghi nhận:

“Vũ Khắc Khoan là ngòi bút đặc biệt giao hòa triết lý Đông Tây, cổ điển và hiện đại trong tác phẩm văn học một cách tài tình. Sáng tác ít, nhưng mỗi tác phẩm đều đạt tới mức cổ điển. Cổ điển trong cái nghĩa đẹp nhất: không theo thời thượng mà tìm đến những giá trị phi thời gian. Có thể nói ông là trường hợp "văn dĩ tải đạo" độc đáo nhất trong văn học Việt Nam. Cái đạo ở đây là tư tưởng, là những vấn đề đặt ra cho người trí thức tiểu tư sản ở thời kỳ chia đôi đất nước, nói riêng, và con người của mọi thời, nói chung, trực diện với nghệ thuật và cuộc sống.

Độc giả trong nước ngày nay có lẽ không mấy người biết Vũ Khắc Khoan là ai. Mặc nhiên ông là một trong những tác giả lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Vì vậy, vấn đề chung của giới nghiên cứu văn học hiện nay, là không thể chỉ đóng khung trong một số tác gia quen thuộc, được nhà nước chính thức công nhận nữa, mà phải mở cửa rộng hơn, ra ngoài vòng chính thống, để đưa người đọc vào toàn cõi văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đó là điều kiện sinh tồn, và là lý do hiện hữu của công việc nghiên cứu phê bình....

...

1954, trước bối cảnh chia đôi đất nước, thành phần "trí thức tiểu tư sản" của Vũ Khắc Khoan ở trong cái thế như thế nào? Thế ấy, Vũ Khắc Khoan gọi là "trên đe dưới búa", "tư bản đè xuống, vô sản vùng lên": người trí thức tiểu tư sản "Khoan tôi" ở trong thế kẹt: Họ thuộc giai tầng lưng chừng, không giầu mà chẳng nghèo, không theo hai cực mà bị chúng ép lại. Truyện Thần Tháp Rùa viết về cái thế kẹt ấy của người trí thức tiểu tư sản ở thời điểm sắp chia đôi đất nước: chọn con đường nào cũng khó. Tác giả lồng thời sự trong không khí cổ kính của Thăng Long tự nghìn năm trước: Thư sinh họ Đỗ lên Kẻ chợ trọ học và dạy học, đứng trước những đảo điên của thời cuộc, chàng giữ thái độ lừng khừng khiến có người hỏi: "Hiện nay thiên hạ chia đôi, không trắng thời đen, mà nghe ông nói thì thật không biết là đen hay trắng." Đỗ trả lời: "Tại sao lại cứ bắt buộc phải là đen hay trắng?"

Phong cách nghệ thuật của Vũ Khắc Khoan là đem việc hôm nay lồng vào bối cảnh hôm qua, đem những chuyện thời sự như việc viên thị trưởng Thẩm Hoàng Tín ra lệnh bắt Rùa để triển lãm, việc cầu Thê Húc gẫy đôi... làm "điềm" báo hiệu sự chia đôi đất nước. Những yếu tố thực đó, được thể hiện trong văn qua những hình ảnh hư ảo tuyệt vời của thời cổ tích, ông viết: "Dưới ánh trăng nguyên tiêu, Đỗ đứng lặng nhìn Rùa. Đỗ chợt thấy mắt rùa như mờ lệ. Đỗ hỏi: Cũng biết thùy lệ ư?"

Dùng thể văn biền ngẫu, hàm súc, trau chuốt, chữ đắt giá, tạo vẻ đẹp cổ kính của một thời lồng trong nhiều thời. Đem những băn khoăn của hôm nay lồng trong không khí cổ điển của hôm qua. Qua bốn đoản văn Thần Tháp Rùa, Trương Chi, Thiên Thai và Người đẹp trong tranh, Vũ Khắc Khoan đã "dùng" nghệ thuật để nói lên tư tưởng của mình về cuộc hiện sinh phi lý, về ảo tưởng thiên thai không bao giờ có thật, về cái thế sâu xé của người nghệ sĩ giữa hai thế lực: trưởng giả và thuyền chài (tư bản-vô sản), về sự lựa chọn khó khăn của người nghệ sĩ giữa tác phẩm để đời và lạc thú trước mắt trong cuộc sống sinh thực và phồn thực. Thần Tháp Rùa chao đảo giữa thực tế chính trị lịch sử của Việt Nam thời năm tư và của Việt Nam hôm nay, hơn ba mươi năm sau ngày thống nhất đất nước. Tác phẩm bắc cầu giữa huyền thoại và đời sống, giữa xưa và nay, để đưa ra thực tế của văn bản nghệ thuật....

...Vũ Khắc Khoan là một trong những nhà văn Việt nam đã hoà đồng hai yếu tố khó nhất trong một tác phẩm văn học: triết học và văn chương, làm cho tác phẩm, tuy chở tư tưởng triết học, nhưng đọc vẫn thú vị, thanh thoát như một áng văn xuôi đầy chất thơ. Chính ở chỗ đó, mà người nghệ sĩ Vũ Khắc Khoan đã hoà đồng được thiên thai và thế tục, được thiên đàng và trần thế, điều không thể làm được trong thực tại cuộc đời, chỉ có thể hiện hữu trong tưởng tượng và nghệ thuật.”

Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Vũ Khắc Khoan, và nhà bình luận Thụy Khuê... Những dòng chữ của họ Vũ sẽ bất tử trong dòng chảy văn học VN.

Phá rừng như dường là chuyện muôn đời dễ kiếm tiền của các quan chức kiểm lâm và địa phương. Vấn đề khó không phải là phá rừng, mà khó chỉ là làm sao cứu rừng. Nghĩa là các quan chư!c không lạm dụng quyền lực, đồng thời cần có cơ chế giám sát. Còn không, thì phaỉ dạy cho mọi người biết yêu thương rừng.
Có phải là ảo giác, và tin đồn về ảo giác, mỗi khi có chuyện huyền bí? Việt Nam có rất nhiều nghi án cổ sử, như mộng, như thực. Thí dụ, mới đây, báo Lao Động kể về chuyện "hồn ma cung nữ đòi nợ" ở Yên Tử. Có thật không? Tại sao lại xảy ra ở Yên Tử? Hay chỉ là huyền thoại dân gian? Đặc biệt, khi chuyện gắn liền với một địa danh là Suối Giải Oan.
Kayla bị cảm, phải nghỉ học ở nhà. Mẹ em năn nỉ nhờ tôi giữ dùm Kayla, vì chị không thể nghỉ làm hôm nay. Tôi nnận lời vì hôm nay tôi cũng rảnh.
Lỗi chính tả là chuyện muôn đời, muốn thoát ra là phải học -- không chỉ là cần học nghiêm túc, mà cần phải tự xem việc tránh lỗi chính tả cũng y hệt như tu sĩ trong ngôi đền thờ ngôn ngữ và văn học. Lỗi văn học là một cấp cao hơn. Vì chính tả có khi là do phát âm sai, vì ảnh hưởng địa phương trong giọng nói, nhưng lỗi văn học khó dò hơn, vì đòi hỏi trình độ học cao hơn để dò lỗi...
Khi ngân sách các quan chức thiếu tiền, sẽ nghĩ ra đủ cách để moi tiền dân. Mới nhất, Hà Nội bày trò chận xe theo chỉ tiêu để phạt, mỗi phường phải kiếm cớ phạt người đi xe qua lại làm sao cho đủ ít nhất 50 triệu đồng mỗi tháng.
Trang Bauxite VN vừa phổ biến một “Tiếng kêu cứu từ Buôn Triết, xã Dur KMăl - Krong Ana, Đắc Lắc,” từ một người nông dân lương thiện bị quan chức cướp đất mà anh đã khai phá.
Thuốc giả trước giờ đã được cảnh báo từ lâu rồi. Câu hỏi nơi đây là, vắc xin có vướng nhầm thuốc giả không? Và các viên chức có bị nhầm bởi thuốc giả hay không, khi trình độ làm thuốc giả, thuốc dỏm ngày càng tinh vi?
Đó là chuyện công an. Chuyện dài công an. Kể hoài không hết. Chuyện nào cũng đầy nước mắt.
Thời xưa thật xưa, cụ Khổng Tử nói rằng đối với chuyện quỷ thần thì nên cung kính mà tránh xa, gọi là kính nhi viễn chi. Không phải vì cụ Khổng bài bác gì ai (thời hơn hai ngàn năm trước, khi đó chuyện thần thánh vẫn còn gần với con người lắm, có lẽ), nhưng vì cụ muốn cho xã hội hòa hài, vì nếu chuyên tâm vào chuyện tâm linh, xã hội cơ nguy hỗn loạn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.