Hôm nay,  

Đọc Thơ Hoàng Cầm

08/05/201700:00:00(Xem: 5269)
Như thế, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi tròn 7 năm...

Ngày 6 tháng 5/2010, nhà thơ Hoàng Cầm từ trần, sau một đời xông vào cuộc kháng chiến chống Pháp, và rồi khi Đảng CSVN nắm quyền,nhà thơ bị quy chụp trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm để bị vùi dập nhiều thập niên, cho tới khi nhà nước phục hồi...

Nhà thơ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (sinh 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, nay là thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – mất 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội).

Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Năm 1944, do Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể.

Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

Tháng 10 năm 1954, đoàn văn công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án "Nhân văn Giai phẩm", ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi....

Đài RFA khi tường thuật về nhà thơ Hoàng Cầm đã ghi nhận rằng thi sĩ có hơn ba trăm bài thơ liên quan đến bóng dáng của 13 người đẹp. Trong một cuộc phỏng vấn của Hà Linh, nhà thơ Hoàng Cầm thuật lại:


“Tôi sớm viết thơ tình vì Trời “bắt tội” tôi yêu sớm. 8 tuổi đã biết say mê. Tôi viết những vần thơ tình đầu tiên để mỗi dịp về quê, là dúi vào tay chị Vinh … nhưng cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi không xuất phát từ tình yêu mà do mẹ thày xếp đặt và ấn định ngày cưới khi 17 tuổi.”

Hoàng cầm kể:

“Những mối tình về sau là do các bà ngỏ lời trước. Có những lúc vì nguyên nhân này nọ, tôi phải từ chối nhưng thường thì họ tỏ tình là tôi đồng ý luôn.”

Hoàng Cầm kể là trong đời tình vô số của ông, có 5 mối tình khiến ông không thể quên được, ám ảnh nhất là chị Vinh với “lá Diêu bông”, rồi đến một người giũ áo đi tu, và tiếc nuối nhất là cô Ninh, một cuộc tình dữ dội nhưng ông đành phải chia tay vì đã có vợ con ràng buộc. Tuy thế, Hoàng Cầm từng nói là biết ơn tất cả những người con gái đi qua đời ông, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca của ông.

Nổi tiếng nhất trong tác phẩm Hoàng Cầm là bài thơ “bên Kia Sông Đuống, làm trong thời kỳ kháng chiến chông Pháp. Sau đây là các đoạn đầu của bài thơ, khi chàng du kích đứng bên naà sống Đuống nhìn về bên kia sông, nơi quân Pháp liên tục bố ráp, đốt phá... Trích:

Bên Kia Sông Đuống
.
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
.
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
.
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
.
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
.
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
... (hết trích)

Trân trọng tưởng niệm thi sĩ Hoàng Cầm.

Những chuyện báo oán trong cổ tích Việt Nam rất là nhiều. Phần lớn là chuyện kể từ đời này qua đời kia, nhằm răn dạy con chaú tránh gây nghiệp sát sanh. Vì cái gì cũng có nhân, tất có quả. Làm lành được quả lành, làm dữ tất gặp họa.
Nên chọn hoa gì để làm quốc hoa cho Việt Nam?
Xin lỗi, xin lỗi... Đó là lời xin lỗi liên tục đưa ra từ các bác sĩ và bệnh viện khi bệnh nhân bị chẩn đoán sai, chữa trị sai... và đôi khi chết người.
Một thời kẻ sĩ được ưa chuộng -- những thời từ rất xa xưa, cho tới cả gần đây. Tuy rằng, kẻ sĩ luôn luôn là người có vấn đề với nhà vua, vì kẻ mù chữ thì không bao giờ dám đặt vấn đề với vua, vì vua là thay mặt cho ý trời.
Tôn giáo một thời đã ra các luật định, buộc tín đồ phải theo. Trong đó, có luật cấm ngoaạ tình, hiểu là cấms ắc dục với người không phải vợ chồng.
Việt Nam có những ngôi chùa nào độc đáo? Dĩ nhiên, rất nhiều.
Hoàn cảnh học trò Việt Nam luôn luôn bị xô đẩy bởi những thế lực cha chú: Bộ Giáo Dục & Đào Tạo luôn luôn in ra những cuốn sách có cờ lạ, và bây giờ có thêm con giáp lạ; trong khi các quan huyện, quan xã nhiều nơi lại thẳng tay thu phí các em trong đủ thứ chuyện...
Chỉ vì tính sai một lá bài trên chiếu bạc, người ta có thể sẽ trắng tay, rỗng túi dễ dàng.
Những pho tượng Phật nào bí ẩn tại Việt Nam? Bí ẩn ra sao? Và tại sao nghệ sĩ điêu khắc cổ thời đã làm như thế?
Người làm quan thời xưa là thi tuyển, chứng tỏ tàì năng mới lên chức quan được. Muốn làm quan văn thì ra trường thi, mài mực để viết ra chữ thánh hiền và cũng bày tỏ tài trí của mình. Muốn làm quan võ thì ra thi võ đình, hay trong thời loạn thì tòng chinh, ra sức giữa hòn tên mũi đạn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.