Hôm nay,  

Đọc Thơ Hoàng Cầm

08/05/201700:00:00(Xem: 5271)
Như thế, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi tròn 7 năm...

Ngày 6 tháng 5/2010, nhà thơ Hoàng Cầm từ trần, sau một đời xông vào cuộc kháng chiến chống Pháp, và rồi khi Đảng CSVN nắm quyền,nhà thơ bị quy chụp trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm để bị vùi dập nhiều thập niên, cho tới khi nhà nước phục hồi...

Nhà thơ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (sinh 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, nay là thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – mất 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội).

Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Năm 1944, do Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể.

Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

Tháng 10 năm 1954, đoàn văn công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án "Nhân văn Giai phẩm", ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi....

Đài RFA khi tường thuật về nhà thơ Hoàng Cầm đã ghi nhận rằng thi sĩ có hơn ba trăm bài thơ liên quan đến bóng dáng của 13 người đẹp. Trong một cuộc phỏng vấn của Hà Linh, nhà thơ Hoàng Cầm thuật lại:


“Tôi sớm viết thơ tình vì Trời “bắt tội” tôi yêu sớm. 8 tuổi đã biết say mê. Tôi viết những vần thơ tình đầu tiên để mỗi dịp về quê, là dúi vào tay chị Vinh … nhưng cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi không xuất phát từ tình yêu mà do mẹ thày xếp đặt và ấn định ngày cưới khi 17 tuổi.”

Hoàng cầm kể:

“Những mối tình về sau là do các bà ngỏ lời trước. Có những lúc vì nguyên nhân này nọ, tôi phải từ chối nhưng thường thì họ tỏ tình là tôi đồng ý luôn.”

Hoàng Cầm kể là trong đời tình vô số của ông, có 5 mối tình khiến ông không thể quên được, ám ảnh nhất là chị Vinh với “lá Diêu bông”, rồi đến một người giũ áo đi tu, và tiếc nuối nhất là cô Ninh, một cuộc tình dữ dội nhưng ông đành phải chia tay vì đã có vợ con ràng buộc. Tuy thế, Hoàng Cầm từng nói là biết ơn tất cả những người con gái đi qua đời ông, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca của ông.

Nổi tiếng nhất trong tác phẩm Hoàng Cầm là bài thơ “bên Kia Sông Đuống, làm trong thời kỳ kháng chiến chông Pháp. Sau đây là các đoạn đầu của bài thơ, khi chàng du kích đứng bên naà sống Đuống nhìn về bên kia sông, nơi quân Pháp liên tục bố ráp, đốt phá... Trích:

Bên Kia Sông Đuống
.
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
.
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
.
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
.
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
.
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
... (hết trích)

Trân trọng tưởng niệm thi sĩ Hoàng Cầm.

Đó là chuyện muôn đời tại Việt Nam: đốt tiền dân vô tôi vạ.
Bạn thân, đó là chuyện lạ, chuyện rất lạ: một băng hình ngắn, khoảng 1 phút đồng hồ, cho thấy một chú chuột đứng chắp tay lạy Phật.
Khi chúng ta viết những dòng này, Tết Tây đã trôi qua cả hai tuần lễ, và Tết Ta còn vài tuần nữa là tới. Chúng ta với tình bạn nhiều thập niên thực sự đã trật nhịp với thời gian, không gian... và nối kết bây giờ may ra chỉ còn vài nhịp cầu, trong đó Tết Ta là một.
Đó là hoàn cảnh của rất nhiều sinh viên tốt nghiệp bậc cử nhân: ra trường, tìm việc hoài không được, thế là phải treo bằng.
Đó có thể gọi là loạt truyện dài “sau cổng tam quan,” khi quyền lực chính quyền địa phương dính vào các thủ tục sắp xếp nhân sự cho nhà chùa.
Thành phố Huế lúc nào cũng tuyệt vời, bất kể mọi xao động của cuộc đời.
Đó là những chuyện buồn nhất trong đời nhà giáo: mình phải làm chuyện phi pháp, chuyện phi đạo lý... để được vào vị trí một nhà giáo giảng dạy rằng học trò cần sống hợp pháp, hợp đaọ lý...
Hộ khẩu là một phương pháp kiểm soát ngặt nghèo nhất trong lịch sử nhân loại, thậm chí ngay như những đứa con trong bụng đã bị nhà nước bạc đãi về chăm sóc sản khoa vì hoàn cảnh y tế bà mẹ không hộ khẩu.
Đó là chuyện rất lạ... Khi thương lái mua lá điều không, rồi bị tìm chât1 vấn liền đốt rụi và trốn đi. Có phải thu mua lá điều khô là để phá hoại các vườn điều đang ra hoa của Việt Nam? Có phải để xóa sổ thành tích xuất khẩu hạt điều của VN bằng cac1h làm rụi lá trước khi cây thu hoạch được?
Điều làm cho chúng ta phiền là khi những người quan tâm tới giáo dục và văn học thực ra lại gây rối thêm cho mọi chuyện, và như thế sẽ khó làm những gì có chiều sâu được.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.