Hôm nay,  

Đọc Thơ Hoàng Cầm

08/05/201700:00:00(Xem: 5545)
Như thế, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi tròn 7 năm...

Ngày 6 tháng 5/2010, nhà thơ Hoàng Cầm từ trần, sau một đời xông vào cuộc kháng chiến chống Pháp, và rồi khi Đảng CSVN nắm quyền,nhà thơ bị quy chụp trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm để bị vùi dập nhiều thập niên, cho tới khi nhà nước phục hồi...

Nhà thơ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (sinh 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, nay là thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – mất 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội).

Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Năm 1944, do Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể.

Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

Tháng 10 năm 1954, đoàn văn công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án "Nhân văn Giai phẩm", ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi....

Đài RFA khi tường thuật về nhà thơ Hoàng Cầm đã ghi nhận rằng thi sĩ có hơn ba trăm bài thơ liên quan đến bóng dáng của 13 người đẹp. Trong một cuộc phỏng vấn của Hà Linh, nhà thơ Hoàng Cầm thuật lại:


“Tôi sớm viết thơ tình vì Trời “bắt tội” tôi yêu sớm. 8 tuổi đã biết say mê. Tôi viết những vần thơ tình đầu tiên để mỗi dịp về quê, là dúi vào tay chị Vinh … nhưng cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi không xuất phát từ tình yêu mà do mẹ thày xếp đặt và ấn định ngày cưới khi 17 tuổi.”

Hoàng cầm kể:

“Những mối tình về sau là do các bà ngỏ lời trước. Có những lúc vì nguyên nhân này nọ, tôi phải từ chối nhưng thường thì họ tỏ tình là tôi đồng ý luôn.”

Hoàng Cầm kể là trong đời tình vô số của ông, có 5 mối tình khiến ông không thể quên được, ám ảnh nhất là chị Vinh với “lá Diêu bông”, rồi đến một người giũ áo đi tu, và tiếc nuối nhất là cô Ninh, một cuộc tình dữ dội nhưng ông đành phải chia tay vì đã có vợ con ràng buộc. Tuy thế, Hoàng Cầm từng nói là biết ơn tất cả những người con gái đi qua đời ông, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca của ông.

Nổi tiếng nhất trong tác phẩm Hoàng Cầm là bài thơ “bên Kia Sông Đuống, làm trong thời kỳ kháng chiến chông Pháp. Sau đây là các đoạn đầu của bài thơ, khi chàng du kích đứng bên naà sống Đuống nhìn về bên kia sông, nơi quân Pháp liên tục bố ráp, đốt phá... Trích:

Bên Kia Sông Đuống
.
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
.
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
.
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
.
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
.
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
... (hết trích)

Trân trọng tưởng niệm thi sĩ Hoàng Cầm.

Theo báo Người Lao Động, hiện nay, tuy hợp tác văn hóa Việt-Pháp khá phát triển nhưng số người học tiếng Pháp tại VN lại không nhiều. Để minh chứng hiện trạng này, báo NLĐ đã nêu ra trường hợp tại trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TPSG, khoa Anh văn của trường này có 1,200 sinh viên "hệ chính quy", trong khi số sinh viên theo học Pháp văn của trường là 390 sinh viên
Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, Người Lao Động, trong các hòn đảo vùng biển miền Trung, có đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi có địa hình đặc biệt. Đảo này có năm ngọn núi vươn lên giữa biển, khum khum như những cái bếp than đá khổng lồ đã tắt. Dân địa phương bảo trong số đó chỉ mới có bốn ngọn từng nổi trận lôi đình, để lại những cái miệng há rộng đầy nham thạch.
Theo báo SGGP, hàng ngàn gia đình ở miền Tây Nam phần đang đối mặt với tình trạng cây tràm rớt giá thê thảm và tiêu thụ khó khăn, trong khi nợ ngân hàng, nợ "nóng" bên ngoài chưa thanh toán. Nhiều nông dân đã lòng phá chặt bỏ bỏ hàng ngàn hécta tràm xanh tốt hoặc bán đất trồng tràm trả nợ ngân hàng.
Theo các nhà nghiên cứu nhân văn, trống đồng là biểu tượng cho quyền uy của tộc người hoặc cá nhân thủ lĩnh của một số tộc người, nó còn là nhạc khí sử dụng trong những nghi thức thiêng liêng. Tại Việt Nam, có trống đồng Thanh Hoá gắn liền với văn hoá Đông Sơn, nền văn minh của thời đại các vua Hùng và còn trường tồn cùng với các vương triều qua nhiều thế kỷ.
Tại vùng ngoại ô của thành phố Đà Lạt có 1 ngôi chùa có con rồng dài 49 mét, vây được đắp bằng các mảnh vỡ của 50 nghìn vỏ chai bia, do đó dân địa phương gọi tên chùa này là chùa Ve chai. Tên chính thức của ngôi chùa là Linh Phước, cách thành phố Đà Lạt khoảng 8 km. Ngoài kiến trúc độc đáo, nơi đây còn có một đại hồng chung được coi là lớn nhất Việt Nam.
Theo báo Thanh Niên, tình trạng nước đục lại tái xuất hiện ở nhiều khu vực trên địa bàn thành phố Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 3 vưà qua. Nơi xảy ra nhiều nhất là địa bàn các quận Tân Bình, Tân Phú, 11 và lan đến nhiều phường ở quận 7. Trong đêm 29 đến sáng ngày 30/3/2006, tình trạng nước máy tại các quận: 6, 7, 8, 11, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, huyện Bình Chánh và Nhà Bè bỗng dưng bị đục ngầu như nước cống.
Theo báo quốc nội, tại quận 8 TP Sài Gòn, có câu lạc bộ diều Phượng Hoàng, nơi quy tập những người chơi diều như môn thể thao nghệ thuật. Tại đây có 1 nghệ nhân tên là Nguyễn Thanh Vân, năm nay 56 tuổi, đã góp phần tạo nên hình tượng đặc trưng của nhiều lễ hội chỉ bằng những cánh diều. Không ai biết cánh diều có từ bao giờ, nhưng đối với ông Nguyễn Thanh Vân
Theo báo quốc nội, hàng năm, cứ vào tháng 3, các lò luyện thi đại học trên địa bàn thành phố Sài Gòn bắt đầu hoạt động rầm rộ. Đây cũng là thời điểm chạy nước rút của thày trò các lớp cuối cấp bậc trung học. Năm nay, ngoài các lò luyện thi đại học tấp nập kẻ học người dạy, các trung tâm "bồi dưỡng văn hóa" tại các trường trung học phổ thông (lớp 10-12) cũng nóng lên bởi quy định thi tuyển sinh vào lớp 10.
Tại các tỉnh miền núi ở phía Bắc VN, có khá nhiều phiên chợ đặc biệt, mỗi chợ đều có một vẻ riêng. Riêng tại tỉnh Hòa Bình, có một cái chợ nhỏ, tồi tàn, nhưng thu hút rất đông dân địa phương qua những phiên chợ họp vào các ngày mồng năm, mồng mười hàng tháng (cứ cách 5 ngày có một phiên) với rất nhiều mặt hàng có giá đúng 1 ngàn đồng (khoảng 0.06 Mỹ kim).
Theo báo Tuổi Trẻ, tại tỉnh Nghệ An có 1 làng nghèo ven biển mà đa số gia đình cư dân đã kiếm sống bằng nghề bán muối rong. Đó là làng Trung Hậu thuộc xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Cả làng có gần 300 lao động đi bán muối rong, phần lớn là ở độ tuổi mười lăm, mười tám, hai mươi. Nhà nào cũng có người đi bán muối.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.