Hôm nay,  

Đọc Thơ Hoàng Cầm

08/05/201700:00:00(Xem: 5488)
Như thế, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi tròn 7 năm...

Ngày 6 tháng 5/2010, nhà thơ Hoàng Cầm từ trần, sau một đời xông vào cuộc kháng chiến chống Pháp, và rồi khi Đảng CSVN nắm quyền,nhà thơ bị quy chụp trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm để bị vùi dập nhiều thập niên, cho tới khi nhà nước phục hồi...

Nhà thơ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (sinh 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, nay là thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – mất 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội).

Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Năm 1944, do Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể.

Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

Tháng 10 năm 1954, đoàn văn công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án "Nhân văn Giai phẩm", ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi....

Đài RFA khi tường thuật về nhà thơ Hoàng Cầm đã ghi nhận rằng thi sĩ có hơn ba trăm bài thơ liên quan đến bóng dáng của 13 người đẹp. Trong một cuộc phỏng vấn của Hà Linh, nhà thơ Hoàng Cầm thuật lại:


“Tôi sớm viết thơ tình vì Trời “bắt tội” tôi yêu sớm. 8 tuổi đã biết say mê. Tôi viết những vần thơ tình đầu tiên để mỗi dịp về quê, là dúi vào tay chị Vinh … nhưng cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi không xuất phát từ tình yêu mà do mẹ thày xếp đặt và ấn định ngày cưới khi 17 tuổi.”

Hoàng cầm kể:

“Những mối tình về sau là do các bà ngỏ lời trước. Có những lúc vì nguyên nhân này nọ, tôi phải từ chối nhưng thường thì họ tỏ tình là tôi đồng ý luôn.”

Hoàng Cầm kể là trong đời tình vô số của ông, có 5 mối tình khiến ông không thể quên được, ám ảnh nhất là chị Vinh với “lá Diêu bông”, rồi đến một người giũ áo đi tu, và tiếc nuối nhất là cô Ninh, một cuộc tình dữ dội nhưng ông đành phải chia tay vì đã có vợ con ràng buộc. Tuy thế, Hoàng Cầm từng nói là biết ơn tất cả những người con gái đi qua đời ông, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca của ông.

Nổi tiếng nhất trong tác phẩm Hoàng Cầm là bài thơ “bên Kia Sông Đuống, làm trong thời kỳ kháng chiến chông Pháp. Sau đây là các đoạn đầu của bài thơ, khi chàng du kích đứng bên naà sống Đuống nhìn về bên kia sông, nơi quân Pháp liên tục bố ráp, đốt phá... Trích:

Bên Kia Sông Đuống
.
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
.
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
.
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
.
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
.
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
... (hết trích)

Trân trọng tưởng niệm thi sĩ Hoàng Cầm.

Theo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển người giúp việc nhà tại các gia đình ở các quận nội thành rất lớn nhưng không tìm đủ người. Trước thực tế khó tìm được người giúp việc nhà ở luôn trong nhà, nhiều gia đình chuyển hướng tìm người giúp việc đến làm theo giờ. Theo họ, tuyển lao động làm việc theo giờ có nhiều cái lợi như đỡ phải lo ăn, ở và chi phí thấp hơn nhiều.
Theo báo Người Lao Động, hơn 1 năm trở lại đây, tranh được bày bán ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đột ngột rớt giá, nguyên nhân là bởi hiện tượng tranh nhái tràn lan. Theo 1 họa sĩ có thâm niên trên 35 năm trong nghề, 5 năm trước đây các phòng tranh ở Hội An không có tranh nhái. Du khách rất an tâm khi mua tranh và tranh bán cũng rất chạy.
Theo báo SGGP, tại Sài Gòn, mỗi năm có thêm hàng ngàn phòng học mới nhưng các cơ quan ngành giáo dục tại các quận, huyện năm nào cũng than thiếu phòng học, người dân phiền vì sĩ số học sinh của các lớp học đã "quá tải". Trình bày về hiện trạng trường lớp tại các quận, huyện của SG, báo SGGP ghi nhận rằng chỉ trừ một vài huyện ngoại thành không bị áp lực tăng dân số
Tại miền Đông Nam phần, có xã Phú Lộc là một trong nhiều xã ở huyện Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) là "miền đất hứa" của bò cạp. Ở vùng đất đá này, bò cạp sinh sôi nhiều đến mức người dân địa phương có thể tìm thấy chúng bất kỳ chỗ nào, nhất là dưới các tảng đá lớn.Trước đây, cứ sau mỗi trận mưa to là bò cạp "tung tăng" khắp nơi, người dân phải tránh.
Theo ghi nhận của báo SGGP, tại miền Tây Nam phần VN, xăng dầu, đường cát, hàng điện máy, điện thoại di động, thuốc lá, vải... ở khu vực biên giới Việt Nam và Cam Bốt đang chênh lệch giá rất cao. Hàng lậu vì thế đang tràn về như nước lũ, xâm nhập ào ạt vào thị trường nội địa. Báo SGGP ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại các trường đại học của VN, dường như nghiên cứu khoa học chỉ là công việc "tay trái" của các giảng viên , khi trung bình cứ hai, ba giảng viên mới có một người "liên quan" đến các công trình nghiên cứu. Đa số các giảng viên làm công việc mà một số nhà giáo dục gọi là "thợ dạy". Báo TT ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, 65 năm nay tồn tại một làng mà hầu hết trai tráng sống bằng nghề lặn tìm sắt thép phế liệu. Làng lặn hiện đã trở thành khu phố, nhưng trông vẫn chẳng khác gì những ngôi làng miệt sông nước miền Tây với những chiếc ghe neo san sát dưới sông, còn trên bờ là những ngôi nhà tuềnh toàng.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong những ngày vưà qua, tại miền Tây Nam phần, đại dịch bướm đã khiến người dân tỉnh Hậu Giang thức trắng "đánh đàn" vì ngứa. Tại thị xã Vị Thanh, dịch bướm đã hoành hành từ một tháng này, nhiều người dân trong thị xã khổ vì bị bướm bám theo gây ngứa. Báo TT ghi nhận tình trạng dịch bướm tại địa phương này như sau.
Tại phường 4 quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 lớp học rất đặc biệt do 1 nữ giáo viên già phụ trách. Lớp học này là chiếc phao cứu sinh cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường, cho dù là trường bổ túc. Với 1 ngàn/buổi học, có học sinh đã học hết lớp 4, rồi vào lớp 5 bổ túc, sau đó học tiếp lên trung học. BáoNgười Lao Động viết về lớp học này như sau.
Theo báo quốc nội, trong năm 2003, công suất bia của cả VN đạt 1.29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1.37 tỷ lít. Dự kiến năm 2005 sản lượng bia của toàn VN vượt xa mức 1.5 tỷ lít. Về tình hình kinh doanh, trong những năm qua đã có hàng chục nhà máy bia địa phương được đầu tư để rồi thua lỗ, vì không chen chân tìm được chỗ đứng trên thị trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.