Hôm nay,  

Đọc Thơ Hoàng Cầm

08/05/201700:00:00(Xem: 5458)
Như thế, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi tròn 7 năm...

Ngày 6 tháng 5/2010, nhà thơ Hoàng Cầm từ trần, sau một đời xông vào cuộc kháng chiến chống Pháp, và rồi khi Đảng CSVN nắm quyền,nhà thơ bị quy chụp trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm để bị vùi dập nhiều thập niên, cho tới khi nhà nước phục hồi...

Nhà thơ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (sinh 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, nay là thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – mất 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội).

Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Năm 1944, do Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể.

Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

Tháng 10 năm 1954, đoàn văn công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án "Nhân văn Giai phẩm", ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi....

Đài RFA khi tường thuật về nhà thơ Hoàng Cầm đã ghi nhận rằng thi sĩ có hơn ba trăm bài thơ liên quan đến bóng dáng của 13 người đẹp. Trong một cuộc phỏng vấn của Hà Linh, nhà thơ Hoàng Cầm thuật lại:


“Tôi sớm viết thơ tình vì Trời “bắt tội” tôi yêu sớm. 8 tuổi đã biết say mê. Tôi viết những vần thơ tình đầu tiên để mỗi dịp về quê, là dúi vào tay chị Vinh … nhưng cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi không xuất phát từ tình yêu mà do mẹ thày xếp đặt và ấn định ngày cưới khi 17 tuổi.”

Hoàng cầm kể:

“Những mối tình về sau là do các bà ngỏ lời trước. Có những lúc vì nguyên nhân này nọ, tôi phải từ chối nhưng thường thì họ tỏ tình là tôi đồng ý luôn.”

Hoàng Cầm kể là trong đời tình vô số của ông, có 5 mối tình khiến ông không thể quên được, ám ảnh nhất là chị Vinh với “lá Diêu bông”, rồi đến một người giũ áo đi tu, và tiếc nuối nhất là cô Ninh, một cuộc tình dữ dội nhưng ông đành phải chia tay vì đã có vợ con ràng buộc. Tuy thế, Hoàng Cầm từng nói là biết ơn tất cả những người con gái đi qua đời ông, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca của ông.

Nổi tiếng nhất trong tác phẩm Hoàng Cầm là bài thơ “bên Kia Sông Đuống, làm trong thời kỳ kháng chiến chông Pháp. Sau đây là các đoạn đầu của bài thơ, khi chàng du kích đứng bên naà sống Đuống nhìn về bên kia sông, nơi quân Pháp liên tục bố ráp, đốt phá... Trích:

Bên Kia Sông Đuống
.
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
.
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
.
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
.
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
.
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
.
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
... (hết trích)

Trân trọng tưởng niệm thi sĩ Hoàng Cầm.

Trong các loại bánh truyền thống của VN, bánh tét được người dân miền Trung, miền Nam dâng cúng tổ tiên và biếu tặng họ hàng, bè bạn, vào dịp Tết, ngày giỗ. Đặc biệt là trong ngày Tết cổ truyền, trên bàn thờ của mỗi gia đình, bên cạnh mâm ngũ quả, cặp dưa hấu và cành mai vàng thì không thể thiếu cặp bánh tét. TTXVN ghi nhận về "bánh Tét trong ngày Tết phương Nam" như sau.
Theo phong tục tập quán VN, dù ở thành phố hay nông thôn, dù nhà khá giả hay nghèo khó, trên bàn thờ ngày Tết cổ truyền của mọi gia đình VN đều có mâm ngũ quả để thờ cúng tổ tiên. Quan niệm về mâm ngũ quả ở mỗi vùng, mỗi địa phương và mỗi hoàn cảnh cũng khác nhau; Có khi chỉ gồm hai, ba loại quả, nhưng cũng có khi tới hàng chục loại khác nhau.
Theo ghi nhận của các nhà nghiên cứu nhân văn, tại miền Tây Nam phần Việt Nam, từ rằm tháng Chạp, không khí Tết đã bắt đầu Người dân ở đây, dù đời sống luôn phải đối mặt với thiên tai, đón Tết vẫn giữ được truyền thống xưa. Tại vùng nước nổi đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp, Long An... cũng như nhiều làng quê khác ở đồng bằng sông Cửu Long đều có những tập tục đã trở thành truyền thống.
Người Sài Gòn xưa cũng như nay có thói quen gọi cặp từ "Lăng Ông Bà Chiểu" để chỉ lăng thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, từng giữ chức Tổng trấn Gia Định thành (tức cả Nam Bộ và tỉnh Bình Thuận ngày nay) tại khu vực Bà Chiểu. Hàng năm, tại Lăng Ông có hai lễ hội lớn, đó là ngày giỗ Tả quân vào ngày 01.8 âm lịch và ngày hội đầu xuân mồng 1 và ngày mồng 2 Tết.
Theo những truyền thuyết lưu truyền về vị thủy tổ quan họ, người quan họ từ đời này đến đời khác xem nhau là anh em một nhà, mối dây ràng buộc thâm tình ấy đã dẫn đến tục kết chạ, một hình thức kết nghĩa, giữa các làng mà chỉ ở vùng đất quan họ mới có. Một số người quan họ kết bạn không được quyền lấy nhau thành vợ, thành chồng.
Theo SGGP, trong những ngày giáp Tết, trên đường Kha Vạn Cân, quận Thủ Đức, hàng chục chuyến xe nối đuôi nhau chờ chở mai vàng đi Bắc để rồi "vượt biên" sang thị trường Hoa Lục. Do lượng mai được thương lái săn lùng rất lớn, vào những ngày hạ tuần tháng chạp âm lịch, thị trường mai tại thành phố Sài Gòn đang tăng giá chóng mặt.
Vào tuần lễ cuối tháng chạp âm lịch, tại nhiều đền miếu ở miền Bắc VN, có rất đông người từ các nơi đổ về làm lễ "trả nợ Thánh". Đầu năm, những người này thường khăn gói đi "vay". Cuối năm, dù nghèo túng đến mấy, họ cũng phải lo trả nợ. Tuy nhiên, sự "vay", trả này đều là ảo mà thôi. Báo Tiếp Thị-Gia Đình ghi nhận một số cảnh tượng tại Bắc Ninh như sau.
Theo báo Người Lao Động, trong 10 ngày qua, tại thành phố Sài Gòn, nhiều người gửi mai ở vườn mai Hồng Phúc (dịch vụ chăm sóc mai) trên đường Phạm Văn Chiêu, phường 12, quận Gò Vấp, đã xôn xao khi ngày Tết đã đến nhưng nơi vườn mai Hồng Phúc giờ đây chỉ còn một bãi đất trống, cỏ mọc um tùm. Chủ vườn mai Hồng Phúc "biến mất" mang theo hàng tỷ đồng của khách hàng.
Theo báo SGGP, toàn thành phố SG hiện có 115 trường trung học phổ thông (lớp 10-12) thuộc 3 hệ thống:công lập, dân lập, bán công, trong đó có 74 trường đưa môn tin học vào giảng dạy. Số lượng giáo viên tin học có khoảng 195 người. Thế nhưng, phần lớn giáo viên tin học ở các trường đều là giáo viên kiêm nhiệm hoặc mới chỉ được học qua lớp bổ túc tin học ngắn hạn nên trình độ chuyên môn yếu.
Theo báo Lao Động, tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, miền Bắc VN, có một làng rất đặc biệt: Làng xuất cảng lao động. Nơi đây có hàng trăm người đi lao động nước ngoài. Họ đi đông, theo những đường dây riêng, người đi trước tạo điều kiện cho người đi sau, tạo thành một phong trào xuất cảng lao động rầm rộ. Tất cả đều hy vọng có ngày thoát khỏi cái nghèo. Báo Lao Động ghi nhận về làng này như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.