Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6268)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Theo ghi nhận của báo SGGP, những ngày vừa qua, lĩnh vực nhà đất tại Sài Gòn lại "nóng lên" khi ủy ban các quận, huyện cho phép kê khai để xin tồn tại nhà xây dựng không phép, trái phép từ ngày 1-7-2004 trở về trước. Ban đầu, sự kiện này được người dân vui mừng đón nhận hết sức hồ hởi, nhưng sau đó họ nhận ra rằng lại thêm một thủ tục hành dân...
Theo báo Người Lao Động, sau vụ trường Anh ngữ quốc tế SITC với hàng chục chi nhánh tại các thành phố VN bị phát giác lừa gạt học viên, và tổng giám đốc trường học trốn, những người theo học tiếng Anh mới giật mình nhận ra rằng bỏ tiền vào các trung tâm Anh ngữ mang danh quốc tế chưa hẳn đã tốt, khi mà hiện nay tại VN có rất nhiều trường lạm dụng ngôn từ "quốc tế" trong việc đặt tên trường.
Theo báo quốc nội, tại tỉnh Quảng Ngãi có 1 ngôi làng mà cư dân đang đối mặt với dịch bệnh viêm gan. Đó là làng Tân An, xã Tịnh Đông, huyện Sơn Tịnh. Làng có 200 gia đình với hơn 900 cư dân, nhưng đã có trên 50% dân số bị viêm gan B. Hai năm trở lại đây, có hơn 20 người đã bị căn bệnh quái ác này cướp đi mạng sống, phần lớn tuổi đời từ 30 đến 45.
Theo báo Người Lao Động, tình trạng số nhà, tên đường tại các khu dân cư mới trên địa bàn TPSG chẳng khác nào những mê hồn trận. Nhất là một số khu dân cư mới ở quận Gò Vấp và quận 8. Trước thực trạng này, Sở Xây dựng TPSG đang lập kế hoạch thực hiện quy chế đánh số và gắn biển số nhà, vừa được Bộ Xây dựng ban hành
Theo báo quốc nội, trên nhiều khu phố ở Hà Nội, thường có một nhóm người, trên tay là những túi nilon to nhỏ khác nhau chứa những con bọ cạp hoặc con bửa củi bán rong. Những người này là dân buôn từ các tỉnh miền Nam ra, vất vả kiếm sống bằng nghề mạo hiểm này. Qua những người quen, họ biết được nhu cầu sử dụng bọ cạp ở Hà Nội đang tăng mạnh
Tại miền Đông Nam phần, vùng Bà Rịa - Vũng Tàu có nhiều cửa sông, hải cảng nằm trong hệ thống giao thông đường thủy trọng yếu toàn miền. Theo tài liệu của báo quốc nội, vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17, trong tiến trình khai phá vùng đất phương Nam, đã có nhiều luồng dân cư qua lại cửa ngõ này và chọn Bà Rịa - Vũng Tàu làm nơi định cư lâu dài.
Trên con đường xuyên Việt ra Bắc vào Nam, Hải Vân luôn luôn là một địa danh ấn tượng. Đây là đèo cao nhất trong các đèo ở Việt Nam (khoảng 500m so với mực nước biển), đầy hiểm trở và cũng là đỉnh núi cuối cùng của một mạch Trường Sơn đâm ngang ra biển. Trong Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn từng nhận xét: Hải Vân dưới sát bờ biển,
Theo báo Đồng Nai, những công nhân làm việc tại các nhà máy công nghiệp tại VN luôn đối mặt với những hiểm họa từ các loại bệnh do nghề nghiệp gây ra. Hiện nay, tại các khu công nghiệp, chế biến sản xuất, ngoài những bệnh nghề nghiệp thông thường đã xuất hiện nhiều loại bệnh nghề nghiệo mới, nguy hiểm hơn như bụi phổi silic, điếc nghề nghiệp, nhiễm độc chì, độc nicotin, lao phổi nghề nghiệp
Chuyện kể trong lá thư này xảy ra tại 1 xóm nghèo ven kênh Tàu Hủ thuộc quận 8 thành phố SG. Cư dân ở xóm này đang sống yên lành, thì bất ngờ nhận quyết định giải tỏa. Người lớn thấp thỏm chờ đợi cái ngày chính thức "cuốn gói ra đi" còn trẻ em nơm nớp lo sợ, một nỗi sợ cố hữu của người nghèo, nỗi lo thất học.
Theo báo Tuổi Trẻ, chưa bao giờ hoạt động xuất cảng lao động của VN lại đa dạng và phức tạp như hiện nay. Bên cạnh hoạt động của hệ thống doanh nghiệp do nhà nước quản lý còn thực trạng khác: cò mồi trung gian với qui mô và thế lực mạnh không kém. Nhiều người đã bị lừa đảo. Báo TT ghi nhận thực trạng này qua một số trường hợp như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.