Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6261)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Tại vùng núi Thất Sơn của miền Tây Nam phần có núi Cấm thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang là ngọn núi cao nhất trong vùng núi này. Qua bao đời, núi Cấm vẫn còn lưu truyền những chuyện kỳ bí, và cái thời thú dữ như hùm beo, mãng xà, rắn độc... còn ngự trị trên ngọn núi cao vời vợi này thì đây cũng là nơi các đạo sĩ tài danh ẩn thân thâm sơn cùng cốc.
Theo ghi nhận của báo SGGP, sự phát triển của thành phố Sài Gòn luôn có sự hiện diện của dòng sông Sài Gòn với những nét nên thơ và hồn phố thị. Trong mô hình toàn cảnh, sông Sài Gòn đã vẽ nên bức tranh đô thị của Sài Gòn. Bên này là khu đô thị cũ, phía bên kia sẽ là khu đô thị mới. Thế nhưng hiện nay bờ sông Sài Gòn đoạn chảy qua quận 2 (hình thành từ một số phường tách từ quận Thủ Đức) đã bị phá nát bởi các công ty địa ốc, xây bờ kè
Theo ghi nhận của báo SGGP, các tỉnh miền Tây Nam phần đang đối mặt với hạn hán và xâm nhập mặn gay gắt. Đợt gió chướng cách nay khoảng một tuần đã đưa nước mặn từ biển tràn vào đất liền đến 30-40km và sẽ lấn sâu hơn trong những ngày tới, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của nông dân.
Hôm thứ Tư, thị trường cổ phần tiến lên mạnh nhờ tin lạm phát không tăng nhiều trong nền kinh tế. Bộ Lao Động nói chỉ số giá tiêu thụ CPI tăng vọt 0.7% trong tháng Giêng vì giá cả xăng dầu, thực phẩm và nhà cửa đều gia tăng, tuy nhiên nếu không tính giá thực phẩm và nhiên liệu hay thay đổi bất thường thì chỉ số lạm phát này chỉ tăng 0.2% như dự tính.
Theo báo quốc nội, tại Sài Gòn, trong lúc nhiều người đổ xô học những ngoại ngữ thời thượng như tiếng Anh, tiếng Hoa ... thì vẫn có những người trẻ tìm đến với những ngoại ngữ châu Á "hiếm" như tiếng Nhật, Thái, Mã Lai, Nam Dương hay Khmer. Riêng tiếng Nhật tuy cũng được xem là thời thượng nhưng tiếng Nhật vẫn thuộc hàng "hiếm" khi số người thông thạo ngoại ngữ này không nhiều.
Sài Gòn có những khu phố đặc biệt mà chỉ cần nhắc đến tên là người dân ai cũng biết, nhưng có 1 khu xem ra còn khá lạ với nhiều người, nhất là những người không phải trong nghề... Đó là khu phố làm kéo trên đường Triệu Quang Phục quận 5, hội tụ nhiều thợ trẻ gắn với nghề. Những người thợ làm kéo không có mùa "cao điểm", cứ làm việc quanh năm, không có ngày nghỉ .
Theo báo Tuổi Trẻ, trên địa bàn thành phố Cần Thơ, ngày trước có rất nhiều ngôi nhà cổ, nhiều bậc hiền tài cũng xuất thân tại đây. Đặc điểm chung của những ngôi nhà cổ trên địa bàn thành phố Cần Thơ cũng như ở miền Tây là sự kếp hợp hài hòa giữa hai nền kiến trúc của Pháp và kiến trúc những ngôi nhà cổ xưa ở miền Trung.
Theo báo quốc nội, từ đầu tháng 2, sau mấy ngày Tết, các trung tâm luyện thi luyện thi đại học tại thành phố Sài Gòn lại vào cuộc đua mới thu hút học viên, bởi đây là thời kỳ học viên bắt đầu đi học luyện thi và cũng là thời kỳ quyết định sự "tồn tại hay không tồn tại" của các trung tâm luyện thi. Báo Người Lao Động ghi nhận thực trạng của các trung tâm
Theo báo quốc nội, gần đây, tại thành phố Sài Gòn bỗng nở rộ xu hướng 'tiếp thị" hình ảnh, album các ca sĩ trên các cột điện. Những tên gọi như "ca sĩ leo cột điện", "ca sĩ ôm cột điện"... cũng mau chóng xuất hiện để "khai sinh" cho xu hướng này. Cột điện giờ đây đã là "thế tam quốc" của ca sĩ, khoan cắt bê tông và liên minh những dịch vụ chữa bệnh thầm kín "đánh" nhau quyết liệt.
Theo ghi nhận của báo SGGP, trong dịp Tết Bính Tuất vưà qua, trên địa bàn thành phố Sài Gòn, số người thuê hoa kiểng chơi Tết tăng cao hơn mọi năm, tập trung phần lớn là giới doanh nghiệp thuê về chưng để làm đẹp phòng khách. Hoa kiểng được thuê hầu hết là những cây mai gốc cổ thụ, mai ghép nhiều cánh thuộc loại chiến có giá từ vài triệu đồng/cây trở lên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.