Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6286)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Theo báo quốc nội, tại VN, các chuyên viên lồng tiếng cho phim đang có nguy cơ thất nghiệp. Sự thu hẹp của thị trường phim bộ, công nghệ thu tiếng trực tiếp tại trường quay đang bắt đầu, phim phụ đề ngày càng được ưa chuộng đã đẩy nghề lồng tiếng phim vào giai đoạn khó khăn nhất. Báo Thanh Niên ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo báo quốc nội, ngày 18/8/2005, tại hội nghị về "công tác sinh viên, học sinh" do Bộ Giáo dục-Đào tạo CSVN tổ chức tại HN, cơ quan điều tra về ma túy của Bộ Công an CSVN cho biết, qua rà soát tại 50 tỉnh, thành, đã phát giác 783 giáo viên, học sinh liên quan đến ma tuý. Đặc biệt, một cô giáo dạy trường mẫu giáo ở Tuyên Quang còn cầm đầu đường dây buôn 408 kg thuốc phiện. Tỉnh Sơn La cũng có 132 giáo viên nghiện, buôn bán ma tuý.
Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa, có khu phố Long Sơn thị trấn Long Điền chỉ là một xóm nhỏ nhưng lại có hơn chục gia đình làm nghề đúc chuông. Không giàu, nhưng nghề đúc chuông đồng cũng là nguồn mưu sinh tạm đủ cho người làm nghề, và đã có một thời vang bóng. Ngày nay, khi đến Long Điền, tìm về xóm chuông, vẫn còn đấy những mái nhà xưa nhưng không còn nhộn nhịp như trước nữa, thay vào đó là một khung cảnh vắng vẻ, đìu hiu.
Theo báo quốc nội, sau hai cơn địa chấn trong đêm ngày 5 và rạng ngày 6/8/2005 ảnh hưởng đến một số khu vực trên địa bàn thành phố Sài Gòn, trung tuần tháng 8/2005 vưà qua, các cơ quan chuyên môn TPSG đã tiến hành kiểm kiểm tra, kiểm định một số chung cư cũ. Trong những ngày theo đoàn kiểm tra, các phóng viên nhận thấy: mặc dù hai cơn địa chấn đã đi qua
Theo ghi nhận của báo quốc nội, tại nhiều công trình xây cất trên địa bàn thành phố Sài Gòn, ngoài thành phần nam công nhân xây dựng, còn có một số nữ công nhân làm công việc phụ thợ hồ. Những phụ nữ khốn khó này là dân nghèo từ các vùng quê của các tỉnh miền Bắc, miền Trung vào Nam mưu sinh. Họ bán sức người để kiếm sống qua ngày.
Theo báo quốc nội, năm nay, cư dân đồng bằng sông Cửu Long đón mùa nước nổi với thái độ khác hẳn những mùa lũ trước. Khác với những năm trước, mùa nước nổi năm nay, cư dân ở vùng "biển nước" tỏ ra bình thản. Cái không khí chộn rộn lo "chạy nước" không còn mà thay vào đó là hình ảnh nhiều gia đình đang chuẩn bị đồ nghề để kiếm sống trong mùa nước nổi.
Theo báo Lao Động, tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh có một người tàn tật được cư dân địa phương gọi là "quái kiệt giưã đời thường". Đó là ông Lê Văn Hiếp, năm nay 45 tuổi, bị dị tật bẩm sinh. Cả hai tay, hai chân của ông đều bị co rút, cơ teo tóp. 10 ngón tay cũng ngón chẳng ra ngón, có ngón cong queo, có ngón thẳng đuột cứng quèo như que củi.
Từ hơn 10 năm qua, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1 thành phố Sài Gòn, đã trở thành Phố Tây của du khách bình dân. Theo báo quốc nội, trung bình mỗi ngày Phố Tây phường Phạm Ngũ Lão có từ 2 ngàn đến 4 ngàn du khách lưu trú. Ngày cũng như đêm, tấp nập, giá rẻ "bèo, đó là những gì còn đọng lại sau khi du khách chọn phố Tây Phạm Ngũ Lão, quận 1 làm nơi dừng chân khi đến Sài Gòn.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, khu vực "làng đại học" được hình thành trên 1 địa bàn rộng, giáp ranh giưã khu vực Linh Trung thuộc quận Thủ Đức và Dĩ An thuộc tỉnh Bình Dường, bao gồm 7 trường Đại học và một số trung tâm.Theo báo quốc nội, với đặc thù nhiều trường và số lượng đông đảo sinh viên như vậy, tình trạng đụng độ, so kè giữa sinh viên với nhau là không thể tránh khỏi.
Bạn, Theo báo quốc nội, tại miền Nam, hầu như chùa, cơ sở thờ tự nào cũng muốn lập Tuệ tĩnh đường cho dù trong điều kiện, khả năng chỉ có thể là bắt mạch, bốc thuốc nam. Tại Đồng Nai,hạn chế này đã sớm được các bậc cao tăng trong giới Phật giáo tỉnh này nhận thấy nên quyết định cho xây dựng một "bệnh viện" nhỏ từ thiện. Báo Đồng Nai ghi nhận về Tuệ tĩnh đường này như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.