Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6332)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Tại miền Tây, tỉnh Bạc Liêu có 54 km bờ biển với 12 ngàn hecta bãi bồi ven biển chạy dài từ Hiệp Thành đến Gành Hào. Ngư trường Bạc Liêu được xác định có nhiều trữ lượng tôm cá, hàng năm sản lượng khai thác thủy sản trên 67 ngàn tấn. Nơi đây trực tiếp nuôi sống nhiều người mưu sinh ven biển và đội ngũ những người chưa một lần ra khơi nhưng cuộc đời của họ gắn liền với những con nước lớn, ròng
Tại miền Tây, so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thì Sóc Trăng có diện tích rừng bần khá lớn với trên 3.000ha, tập trung chủ yếu ở 2 huyện Long Phú và Cù Lao Dung, dọc theo 2 bên bờ sông Hậu và trải dài đến tận cửa biển Trần Đề. Đây là một hệ sinh thái khá độc đáo vùng cửa sông rất giàu tiềm năng, đặc biệt là phòng hộ chống xói lở, gió lốc
Nếu ở Hà Nội từng có chợ phiên "cửu vạn", nơi tập trung những người tìm bán sức lao động chân tay thì tại TPSG cũng có một phiên chợ độc đáo không kém, "chợ nhạc công". Đây là nơi những con người đem tài năng rao bán từng ngày. Báo Người Lao Động viết như sau. Gần 9 giờ sáng, quán cà phê không tên (cạnh chùa Long Vĩnh) trên đường Lê Văn Sỹ, quận 3
Mùa hè đến, tại Sài Gòn, Hà Nội không chỉ dân chơi sành điệu mà dân thuộc tầng lớp trung lưu thường đến các bể bơi để giải toả "nỗi bức bối" sau mỗi ngày hè oi ả. Thời tiết mùa hè năm nay bất thường hơn, những đợt nắng nóng lên tới 38-39oC xuất hiện thường xuyên. Và bể bơi đã trở thành một giải pháp giúp người ta giải toả đi phần nào không khí ngột ngạt của mùa hè
Chuyện trong thư này xảy ra tại Dệt Long An, 1 công ty có 1,000 công nhân, trong đó, công nhân có thời gian làm việc từ 15 năm trở lên (khoảng 600 người), số còn lại có thâm niên từ 20 đến 30 năm. Một nửa cuộc đời họ gắn bó với công ty, phía sau họ phải cáng đáng 1 đến 3 thành viên trong gia đình. Nhưng đồng lương ít ỏi cuối cùng
Theo báo Tuổi Trẻ, cư dân nhiều khu vực Sài Gòn đang thiếu nước sạch dùng hàng ngày. Để xây hệ thống cung cấp nước, công ty cấp nước thành phố SG phải vay gần 1,000 tỷ đồng, đầu tư cho hệ thống cấp nước sông Sài Gòn giai đoạn 1, công suất 300,000 m3/ngày, nhưng đến nay dự án chỉ phát được 34,000 m3/ngày, nguyên nhân là hệ thống cống nước chưa hoàn tất
Theo báo quốc nội, tại thị trấn Gia Nghiã, huyện Đắc Nông, tỉnh Đắc Nông (tách từ tỉnh Darlac), có hàng chục gia đình cư dân sống xung quanh công ty tư doanh chế biến trà Jun Chow thuộc thôn Nghĩa Thanh của thị trấn này, đangphải chịu cảnh sống chung với... ruồi. Ruồi đã làm đảo lộn mọi hoạt động, sinh hoạt hàng ngày của hàng chục gia đình này.
Sài Gòn có vài trường mẫu giáo có cả nam giáo viên. Đáng nói là không ít người đã dị nghị, mỉa mai, đàn ông, con trai làm nghề giữ trẻ dứt khoát là "có vấn đề". Nhưng thực tế, các nam giáo viên đàn ông nuôi dạy trẻ cũng được các cháu mê không kém các cô. Báo Người Lao Động viết như sau.
Tuần qua, người nhà của cố thi sĩ Kim Tuấn đến Trung tâm Bản quyền - Hội Nhạc sĩ Việt Nam để nhận tiền tác quyền bài thơ Lý cây bông (trong tập thơ Thơ lý và thơ ngắn, trang 24, Nhà Xuất bản Văn nghệ TP.SG 2002) được nhạc sĩ T.Q.T phổ nhạc. Đến nơi, thân nhân cố thi sĩ Kim Tuấn té ngửa bởi "đồng tác giả" đã nhanh tay "nhận giùm". Dù đã được năn nỉ "đừng làm lớn chuyện
Cách đây không lâu, trong làng ca nhạc xôn xao vì việc một ca sĩ nhí có tên gọi "Bé Châu", tuy còn ở độ tuổi cấp tiểu học nhưng hát nhạc tình của người lớn rất điêu luyện trong đĩa nhạc Biển nhớ. Ngoài ca sĩ nhí này, còn có nhiều cậu bé, cô bé cũng đang là những "ngôi sao nhi đồng" trên ca đàn Sài Gòn. Một phóng viên SGGP ghi nhận như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.