Hôm nay,  

Ngậm Ngãi Tìm Trầm

04/04/200500:00:00(Xem: 7363)
Bạn,
Khánh Hòa là xứ Trầm hương. Trầm hương Khánh Hòa đã đi vào sử sách. Bởi ngày xưa, vùng đất này có mật độ trầm hương dày đặc. Qua thời gian khai thác, trầm hương trên rừng núi Khánh Hòa hầu như không còn nữa. Gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân bắt đầu trồng lại cây dó, kích ứng cho nó tạo trầm. Báo Khánh Hòa viết về chuyện đi tìm trầm ở Khánh Hòa qua đoạn ký sự như sau.
Những năm đầu thập kỷ 80, chuyện đi tìm trầm rất phổ biến ở nhiều địa phương. Giấc mộng làm giàu từ trầm hương đã thôi thúc dân điệu (người đi tìm trầm) vác ba lô lên đại ngàn. Thời kỳ này, dân điệu nhiều vô kể, cứ bước ra đường là thấy ngay từng tốp dăm bảy người ba lô sẵn sàng lên núi.
Khởi đầu, những người đi điệu chỉ khai thác vùng rừng núi ở Khánh Hòa (vùng có nhiều cây dó) như: Hòn Lớn, Hòn Dù, rừng Sông Giang, vùng núi Tà Mụ... Nhưng rồi rừng dó không còn kịp lớn, dân điệu chuyển từ núi này sang núi khác ở các tỉnh xa hơn để tìm kiếm. Ông Nguyễn Dài (xã Ninh Phụng - Ninh Hòa) - người thâm niên gần 20 năm tiến sâu vào đại ngàn tìm trầm hương nhớ như in từng chuyến đi tìm trầm của mình. Hồi trước, khi mới tập tễnh vác ba lô theo các bậc "trưởng lão", ông đã học được nhiều điều từ dân điệu như: cách xuyên rừng, cách chặt cây, xỉa trầm... Bây giờ ngẫm lại, ông Dài thấy chuyện tìm trầm là đầy hiểm nguy nhưng cũng đầy thú vị.

Hành trang của dân điệu bắt đầu bằng một ba lô, bộ dũm (để xoi trầm) và rìu chặt cây. Trước khi lên rừng, ngoài chuẩn bị nhu yếu phẩm, dân điệu phải sắm thêm đồ dâng lễ cầu đấng linh thiêng đưa đường dẫn lối đến với trầm kỳ... Trong rừng, dân điệu thường chia tốp nhỏ từ 4 đến 6 người (gọi là bầu) để tìm kiếm. Ông Dài nhớ đời chuyến vượt rừng Sông Bé (miền Nam) năm 1988. Một chuyến đi thất bại trở về trong đói khát. Nhưng cũng có chuyến vô mánh tại khu vực đồi Đức Mẹ (Bảo Lộc - Lâm Đồng) năm 1996. Chỉ trong 8 ngày đi lẫn về, cả bầu 5 người thu hoạch được 6kg kỳ nam, bán với giá 236 triệu đồng...
Bạn,
Báo KH viết tiếp: chuyện đi tìm trầm thuộc nhiều vào sự may mắn. Trên thực tế, có người đi hoài mà chẳng trúng đậm được lấy một chuyến, thậm chí chưa hề tìm được kỳ nam hoặc trầm xịn dù chỉ là số ít. Những loại trầm dân điệu mang về từ núi thường là trầm loại 5, loại 6. Nghe qua dân điệu, nhiều người vẫn tưởng sẽ rất "hời" khi vượt đại ngàn tìm trầm hương. Thế nhưng, đằng sau những chuyến điệu là bao gian nguy, trắc trở tiềm ẩn nơi rừng thiêng nước độc. Những căn bệnh sốt rét rừng kinh niên, tai nạn nghiệt ngã có thể cướp đi sinh mạng con người mọi lúc, mọi nơi. Nguy hiểm rất nhiều, song ma lực trầm kỳ vẫn thôi thúc nhiều người "ngậm ngãi" đi sâu hơn vào đại ngàn, ai cũng mong kiếm được một ít "vốn liếng hời". Cái "của trên trời rơi xuống" đã cho một số dân điệu trúng rất đậm, nhưng "ăn của rừng rưng rưng nước mắt" nên "của thiên trả địa" rồi "tán gia bại sản".

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.