Hôm nay,  

Chuyện Về Quán Cóc

28/06/200400:00:00(Xem: 6911)
Bạn,
Quán cóc có ảnh hưởng lớn trong đời sống ẩm thực và trở thành một nét văn hoá sinh hoạt bình dân của người Việt. Tự thuở có ông vua si tình đi tìm cô Tấm đã có quán cóc, đã có bà già têm trầu cánh phượng. Rồi phiêu dạt qua miền thời gian Trung đại với hình ảnh những cụ đồ Nho ngồi luận chữ nghĩa "Thiên- Địa- Nhân hợp nhất" trên những chõng tre quán cóc chè xanh đầu ngõ. Quán cóc từ quê đến phố, đâu đâu cũng thấy. Mỗi nơi một sắc thái của đất- nước, nếp sinh hoạt vùng văn hoá và lối sống con người! Ở nhà quê, quán cóc lẹp xẹp cũng là cái đầu mối thông tin quan trọng, đó là nơi (sau chợ) tin tức đầu làng cuối xóm được truyền khẩu một cách nhanh nhanh hơn điện. Thế nên có những tin trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay là thế. Báo Sài Gòn Tiếp Thị viết về quán cóc qua 1 tạp ghi như sau.
Dân Sài Gòn quen quán cóc cứ nhắm quán hàng có đông khách thì vào. Sẽ rẻ và ngon. Nước non phục vụ đầy đủ, không la cà nhiều. Phố người Hoa quận Năm, phố ẩm thực bình dân trên đường Võ Văn Tần, hay phố ăn uống lâu đời trên đường Nguyễn Thị Diệu hôm nay, vẫn chia ra hai không gian, một bụi bặm cho giới có chút "máu vỉa hè", một sa-lon cho giới thượng lưu thích chỉnh tề, sang trọng. Nhưng xu thế "vỉa hè hoá" vẫn ngày càng hấp dẫn. Dân miền Tây sống với lũ miết rồi coi mọi thứ "chẳng là cái đinh" gì cả, mọi thứ cứ hên xui à! Quán cóc chênh vênh mép sông, vừa lai rai vừa ầu ơ ví dầu, có ngồi dai mọc rễ thì chủ quán cũng chẳng sắp ghế sửa bàn đuổi khéo bao giờ. Cứ thủng thẳng thung thăng và duềnh doàng như "Dạ cổ hoài lang", cứ xàng xê hồ trường "Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà" đi, dù nước lũ dâng cao đến mặt bàn thì dzô vẫn cứ dzô! Người say rượu không té sông, mà té vào tình vào ngãi!

Đổi lại, quán cóc Tây nguyên thường mơ màng phiêu lãng. Nhớ những ngày hàng quán Âm phủ Đà Lạt thuở còn xo ro vài ba đốm đèn đom đóm, nhớ về những con dốc Pleiku, Buôn Mê thuở còn tù mù những đốm sáng hột vịt, mới nghiệm ra, cái lạnh xứ núi làm cho quán cóc cũng là nơi dừng chân và sưởi ấm. Đến quán, tìm chút hơi ấm sau những mỏi mệt trên dặm ruổi rong dốc đèo. Khách dốc cạn ly hột mít nồng đượm men mà như uống cái mơ màng diệu vợi từ gió, từ sương, từ ánh mắt cao nguyên! Để rồi, đến như sương buông và đi như mây trôi.
Cái đời quen cơm đường cháo chợ như phóng viên, coi quán xá là nhà, thì một ngày vắng quán cóc là thấy thiêu thiếu. Đi đến một vùng đất, chỉ ghé vào vài ba quán cóc, ăn uống, trò chuyện về con đường đã qua, hỏi han con đường sắp đến, quan tâm chuyện trong vùng, trước lạ sau quen. Thế là biết ít nhiều về con người và vùng đất ấy. Nhắc đến đất, đôi khi chẳng nhớ gì ngoài góc quán nhỏ vô danh với cô hàng nước với những câu chuyện xới lởi thoáng qua!
Bạn,
Báo SGGT viết tiếp:Một ngày nào, phố sạch, người đông, khói tan, sông đã bắc cầu có khi người ta vẫn thấy thiêu thiếu gì đó. Và khi ấy hình bóng vài ba chiếc đòn, siêu nước ấp úng sôi bên vài ba chiếc đòn cũ cùng những hỏi han xưa của một góc quán vô danh. Cái bình dân mộc mạc, cái gốc gác quê kệch ấy, vẫn biết đôi khi làm xộc xệch và cản những bước tiến chân đô thị văn minh, nhưng nó có sức níu giữ ký ức ghê gớm.

Núi Cấm vẫn không ngưng các huyền thoại: từ nơi tu hành của các bậc kỳ nhân, cho tới nơi ẩn tích của các đaị võ sư danh trấn giang hồ, tới chuyện cọp ra nằm nghe tụng kinh.... và bây giờ là chuyện đại gia lên núi Cấm mua đất 'long mạch' để con cháu đời đời giàu sang phú quý.
Chuyện vừa mới xảy ra tại VN, làm biết bao nhiêu Phật Tử nản lòng: một nhà sư lên sân khấu hôn môi với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. Chưa hết, đây là buổi văn nghệ gây quỹ, nghĩa là sư đã phạm giới vui chơi văn nghệ. Chưa hết, sư lại lấy tiền ra mua một chai rượu -- Nghĩa là xài tiền chúng sinh cúng dường, và mua một món bị giới luật cấm.
Với lòng tin, chúng ta có thể nhìn ra đủ thứ hình Phật, Chúa, Tiên, Thánh... trên các chòm mây. Tất nhiên, nói thế chỉ đơn giản có ý rằng chính nhân loaị đã nhận ra đủ thứ hiện tượng tùy tâm hóa hiện. Có thể là có thật, cũng có thể là ảo tưởng. Nhưng ít nhất, niềm tin vào cảnh giới siêu hình sẽ gìn giữ chúng ta trong cương vực đaọ đức. Không dám làm ác nữa. Hoặc giả, sẽ giảm bớt làm ác.
Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng biệt, trong đó âm nhạc là một mảng gìn giữ di sản trao truyền nhiều đời. Dĩ nhiên, qua thời gian rồi sẽ có những mảng biến mất, nhưng không vì thế mà chúng ta phải hấp tấp chạy theo nhạc Tây,
Có cầu, tất có cung. Đó là quy luật thị trường. Tự nhiên như thế. Có những chuyện muôn đời đã thấy như thế. Cứ nhìn vào thị trường cũng thấy, các cửa khẩu biên giới đang là nơi tuôn vào gà lậu, gạo lậu, điện thoại lậu, vàng lậu, vân vân... nghĩa là đủ thứ thượng vàng hạ cám.
Người nông dân trước giờ được ca ngợi là chỗ dựa của đảng và nhà nước CSVN, nhưng bây giờ thì hết rồi. Bất kể rằng, nông dân thời nào cũng muốn bình yên, vì muốn lo chuyện cơm no, áo ấm là đủ.
Ngày xưa, đọc truyện Tàu, cứ nghe chuyện dân giang hồ ưa đặt trạm để thu tiền mãi lộ, tớ chẳng hiểu bao nhiêu. Bây giờ ngẫm chuyện nước mình thì mới ngộ ra lắm chuyện.
Một thời chúng ta nghe chuyện rằng xã hội chủ nghĩa là nơi ai cũng có cơ hội bình đẳng, nơi ai cũng “làm theo lao động, hưởng theo nhu cầu,” nhưng rồi những hình ảnh mơ tưởng này đã tan vỡ từ mấy thập niên nay, kể từ khi Miền Bắc khám phá ra một Miền Nam của thịnh vượng, của tự do, của dân chủ, và của tử tế nhiều lần hơn.
Có vẻ như Việt Nam đang lạm phát văn bằng. Kể cả văn bằng Tiến sĩ. Chuyện mới lạ, nước vẫn nghèo, mà văn bằng Tiến sĩ đầy phố, chẳng thấy phát minh gì, chỉ thấy “thật, giả” không còn phân biệt nổi.
Đất nước vẫn còn lúng túng, cứ như dường chưa biết phải đổi mới giáo dục ra sao để có thể chạy kịp với các nước láng giềng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.