Hôm nay,  

Chuyện Về Quán Cóc

28/06/200400:00:00(Xem: 6893)
Bạn,
Quán cóc có ảnh hưởng lớn trong đời sống ẩm thực và trở thành một nét văn hoá sinh hoạt bình dân của người Việt. Tự thuở có ông vua si tình đi tìm cô Tấm đã có quán cóc, đã có bà già têm trầu cánh phượng. Rồi phiêu dạt qua miền thời gian Trung đại với hình ảnh những cụ đồ Nho ngồi luận chữ nghĩa "Thiên- Địa- Nhân hợp nhất" trên những chõng tre quán cóc chè xanh đầu ngõ. Quán cóc từ quê đến phố, đâu đâu cũng thấy. Mỗi nơi một sắc thái của đất- nước, nếp sinh hoạt vùng văn hoá và lối sống con người! Ở nhà quê, quán cóc lẹp xẹp cũng là cái đầu mối thông tin quan trọng, đó là nơi (sau chợ) tin tức đầu làng cuối xóm được truyền khẩu một cách nhanh nhanh hơn điện. Thế nên có những tin trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay là thế. Báo Sài Gòn Tiếp Thị viết về quán cóc qua 1 tạp ghi như sau.
Dân Sài Gòn quen quán cóc cứ nhắm quán hàng có đông khách thì vào. Sẽ rẻ và ngon. Nước non phục vụ đầy đủ, không la cà nhiều. Phố người Hoa quận Năm, phố ẩm thực bình dân trên đường Võ Văn Tần, hay phố ăn uống lâu đời trên đường Nguyễn Thị Diệu hôm nay, vẫn chia ra hai không gian, một bụi bặm cho giới có chút "máu vỉa hè", một sa-lon cho giới thượng lưu thích chỉnh tề, sang trọng. Nhưng xu thế "vỉa hè hoá" vẫn ngày càng hấp dẫn. Dân miền Tây sống với lũ miết rồi coi mọi thứ "chẳng là cái đinh" gì cả, mọi thứ cứ hên xui à! Quán cóc chênh vênh mép sông, vừa lai rai vừa ầu ơ ví dầu, có ngồi dai mọc rễ thì chủ quán cũng chẳng sắp ghế sửa bàn đuổi khéo bao giờ. Cứ thủng thẳng thung thăng và duềnh doàng như "Dạ cổ hoài lang", cứ xàng xê hồ trường "Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà" đi, dù nước lũ dâng cao đến mặt bàn thì dzô vẫn cứ dzô! Người say rượu không té sông, mà té vào tình vào ngãi!

Đổi lại, quán cóc Tây nguyên thường mơ màng phiêu lãng. Nhớ những ngày hàng quán Âm phủ Đà Lạt thuở còn xo ro vài ba đốm đèn đom đóm, nhớ về những con dốc Pleiku, Buôn Mê thuở còn tù mù những đốm sáng hột vịt, mới nghiệm ra, cái lạnh xứ núi làm cho quán cóc cũng là nơi dừng chân và sưởi ấm. Đến quán, tìm chút hơi ấm sau những mỏi mệt trên dặm ruổi rong dốc đèo. Khách dốc cạn ly hột mít nồng đượm men mà như uống cái mơ màng diệu vợi từ gió, từ sương, từ ánh mắt cao nguyên! Để rồi, đến như sương buông và đi như mây trôi.
Cái đời quen cơm đường cháo chợ như phóng viên, coi quán xá là nhà, thì một ngày vắng quán cóc là thấy thiêu thiếu. Đi đến một vùng đất, chỉ ghé vào vài ba quán cóc, ăn uống, trò chuyện về con đường đã qua, hỏi han con đường sắp đến, quan tâm chuyện trong vùng, trước lạ sau quen. Thế là biết ít nhiều về con người và vùng đất ấy. Nhắc đến đất, đôi khi chẳng nhớ gì ngoài góc quán nhỏ vô danh với cô hàng nước với những câu chuyện xới lởi thoáng qua!
Bạn,
Báo SGGT viết tiếp:Một ngày nào, phố sạch, người đông, khói tan, sông đã bắc cầu có khi người ta vẫn thấy thiêu thiếu gì đó. Và khi ấy hình bóng vài ba chiếc đòn, siêu nước ấp úng sôi bên vài ba chiếc đòn cũ cùng những hỏi han xưa của một góc quán vô danh. Cái bình dân mộc mạc, cái gốc gác quê kệch ấy, vẫn biết đôi khi làm xộc xệch và cản những bước tiến chân đô thị văn minh, nhưng nó có sức níu giữ ký ức ghê gớm.

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.