Hôm nay,  

Chuyện Về Quán Cóc

28/06/200400:00:00(Xem: 6887)
Bạn,
Quán cóc có ảnh hưởng lớn trong đời sống ẩm thực và trở thành một nét văn hoá sinh hoạt bình dân của người Việt. Tự thuở có ông vua si tình đi tìm cô Tấm đã có quán cóc, đã có bà già têm trầu cánh phượng. Rồi phiêu dạt qua miền thời gian Trung đại với hình ảnh những cụ đồ Nho ngồi luận chữ nghĩa "Thiên- Địa- Nhân hợp nhất" trên những chõng tre quán cóc chè xanh đầu ngõ. Quán cóc từ quê đến phố, đâu đâu cũng thấy. Mỗi nơi một sắc thái của đất- nước, nếp sinh hoạt vùng văn hoá và lối sống con người! Ở nhà quê, quán cóc lẹp xẹp cũng là cái đầu mối thông tin quan trọng, đó là nơi (sau chợ) tin tức đầu làng cuối xóm được truyền khẩu một cách nhanh nhanh hơn điện. Thế nên có những tin trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay là thế. Báo Sài Gòn Tiếp Thị viết về quán cóc qua 1 tạp ghi như sau.
Dân Sài Gòn quen quán cóc cứ nhắm quán hàng có đông khách thì vào. Sẽ rẻ và ngon. Nước non phục vụ đầy đủ, không la cà nhiều. Phố người Hoa quận Năm, phố ẩm thực bình dân trên đường Võ Văn Tần, hay phố ăn uống lâu đời trên đường Nguyễn Thị Diệu hôm nay, vẫn chia ra hai không gian, một bụi bặm cho giới có chút "máu vỉa hè", một sa-lon cho giới thượng lưu thích chỉnh tề, sang trọng. Nhưng xu thế "vỉa hè hoá" vẫn ngày càng hấp dẫn. Dân miền Tây sống với lũ miết rồi coi mọi thứ "chẳng là cái đinh" gì cả, mọi thứ cứ hên xui à! Quán cóc chênh vênh mép sông, vừa lai rai vừa ầu ơ ví dầu, có ngồi dai mọc rễ thì chủ quán cũng chẳng sắp ghế sửa bàn đuổi khéo bao giờ. Cứ thủng thẳng thung thăng và duềnh doàng như "Dạ cổ hoài lang", cứ xàng xê hồ trường "Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà" đi, dù nước lũ dâng cao đến mặt bàn thì dzô vẫn cứ dzô! Người say rượu không té sông, mà té vào tình vào ngãi!

Đổi lại, quán cóc Tây nguyên thường mơ màng phiêu lãng. Nhớ những ngày hàng quán Âm phủ Đà Lạt thuở còn xo ro vài ba đốm đèn đom đóm, nhớ về những con dốc Pleiku, Buôn Mê thuở còn tù mù những đốm sáng hột vịt, mới nghiệm ra, cái lạnh xứ núi làm cho quán cóc cũng là nơi dừng chân và sưởi ấm. Đến quán, tìm chút hơi ấm sau những mỏi mệt trên dặm ruổi rong dốc đèo. Khách dốc cạn ly hột mít nồng đượm men mà như uống cái mơ màng diệu vợi từ gió, từ sương, từ ánh mắt cao nguyên! Để rồi, đến như sương buông và đi như mây trôi.
Cái đời quen cơm đường cháo chợ như phóng viên, coi quán xá là nhà, thì một ngày vắng quán cóc là thấy thiêu thiếu. Đi đến một vùng đất, chỉ ghé vào vài ba quán cóc, ăn uống, trò chuyện về con đường đã qua, hỏi han con đường sắp đến, quan tâm chuyện trong vùng, trước lạ sau quen. Thế là biết ít nhiều về con người và vùng đất ấy. Nhắc đến đất, đôi khi chẳng nhớ gì ngoài góc quán nhỏ vô danh với cô hàng nước với những câu chuyện xới lởi thoáng qua!
Bạn,
Báo SGGT viết tiếp:Một ngày nào, phố sạch, người đông, khói tan, sông đã bắc cầu có khi người ta vẫn thấy thiêu thiếu gì đó. Và khi ấy hình bóng vài ba chiếc đòn, siêu nước ấp úng sôi bên vài ba chiếc đòn cũ cùng những hỏi han xưa của một góc quán vô danh. Cái bình dân mộc mạc, cái gốc gác quê kệch ấy, vẫn biết đôi khi làm xộc xệch và cản những bước tiến chân đô thị văn minh, nhưng nó có sức níu giữ ký ức ghê gớm.

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.