Hôm nay,  

Thợ Đập Đá Bị Đá Đập

04/08/200400:00:00(Xem: 8916)
Bạn,
Chuyện kể với bạn trong lá thư này xảy ra tại khu khai đá Hòn Sóc thuộc xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Đó là tình trạng mất an toàn lao động vẫn tiếp tục diễn ra nghiêm trọng; hàng ngàn công nhân phải làm việc trong nỗi phập phồng, chẳng biết hiểm họa giáng xuống đầu mình khi nào. Báo Lao Động kể như sau.
Về thăm khu đá Hòn Sóc, phóng viên lạnh người khi chứng kiến hai thợ đá Phương - Tái đứng cheo leo trên một cây thang tre treo bên vách một tảng đá lớn, liên tục huơ loại búa tạ nặng 5-6 kg giáng mạnh vào đục sắt. Bụi, đá dăm văng tóe khắp người. Giờ nghỉ trưa, Phương tâm sự: "Treo lơ lửng trên không như vậy sợ lắm chứ, nhưng không làm thì biết còn nghề gì để kiếm tiền nuôi vợ, nuôi con. Thợ đục đá tụi em giỏi lắm mỗi ngày cũng chỉ được chủ trả 65 ngàn đồng". Cạnh đó, thợ đá Lê Văn Én (58 tuổi) thâm niên 35 năm trong nghề nhớ lại kỷ niệm buồn: "Mấy năm trước, khi đang đục tảng đá lớn, không may một mảnh thép của cây đục văng trúng vào mắt trái. Gia đình phải vay tiền lên TPSG chữa trị, nhưng do mảnh thép làm vỡ con ngươi, đành ngậm ngùi để bác sĩ múc bỏ một con mắt. Nay mai chắc phải bỏ nghề vì chứng bệnh viêm phổi và con mắt còn lại cứ mờ dần..."
Phóng viên tìm đến lán trại của gia đình ông Chìa gồm 11 người (vợ chồng ông, 6 người con và 3 người em trai). Họ dắt díu nhau từ miệt Vọng Thê (An Giang) qua Hòn Sóc làm nghề đục đá từ hơn 15 năm nay. Bàn tay ông Chìa chai sần, đầy những vết thẹo do miểng đá, đục văng trúng. Ông kể: "15 tuổi, tui đã theo cha lên núi đục đá. Cha tui kiệt sức bởi chứng bệnh lao phổi, đã giải nghệ hơn 10 năm rồi. 6 đứa con tui thì hết 4 đứa đã phải bỏ học giữa chừng khi chưa xong chương trình xóa dốt. ".

Làm thợ đá, không mấy người tránh khỏi mang bệnh nghề nghiệp, nhất là bệnh bụi phổi. Thường thì người vào nghề được 4-5 năm là bắt đầu mang bệnh hậu, lao lực. Khi đục, chẻ đá, rất ít người sử dụng đồ bảo hộ lao động ngay cả một chiếc khẩu trang đơn giản nhất cũng không. Bậc thầy trong cánh thợ đá, lão Phạm Em nói rằng: "Nguy hiểm nhất là lúc "đội" đá. "Đội" đá nghĩa là khi đá dưới chân núi bị khai thác hết, phải bẩy những tảng đá trên cao xuống bãi, phải sử dụng con đội (ngành cơ khí) có sức nâng đến 50 tấn để bẩy đá ra khỏi vị trí ngàn đời của nó. Nguy hiểm ở chỗ người thợ đá không biết chính xác khi nào tảng đá bị mất thăng bằng và bất ngờ lăn đi do đó rất dễ xảy ra tai nạn...".
Bạn,
Cũng theo báo LĐ, tại Hòn Sóc, ngoài đục, chẻ, nghề làm đá còn có một lực lượng lao động phổ thông rất đông làm nghề đập đá thành viên đủ cỡ dùng trong xây dựng, bốc xếp đá từ trên bờ xuống ghe. Họ phải thức và làm việc từ 5 giờ sáng đến 11 giờ trưa, nghỉ ngơi được một tiếng là phải trở lại làm tiếp cho đến 5 giờ chiều. Thu nhập thấp nhất là người gánh đá, chính yếu là lao động nữ; trong đó có không ít người chưa đến tuổi trưởng thành. Công việc vất vả, nguy hiểm song mỗi ngày thu nhập tối đa chỉ đến 50 ngàn đồng/người.

Núi Cấm vẫn không ngưng các huyền thoại: từ nơi tu hành của các bậc kỳ nhân, cho tới nơi ẩn tích của các đaị võ sư danh trấn giang hồ, tới chuyện cọp ra nằm nghe tụng kinh.... và bây giờ là chuyện đại gia lên núi Cấm mua đất 'long mạch' để con cháu đời đời giàu sang phú quý.
Chuyện vừa mới xảy ra tại VN, làm biết bao nhiêu Phật Tử nản lòng: một nhà sư lên sân khấu hôn môi với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. Chưa hết, đây là buổi văn nghệ gây quỹ, nghĩa là sư đã phạm giới vui chơi văn nghệ. Chưa hết, sư lại lấy tiền ra mua một chai rượu -- Nghĩa là xài tiền chúng sinh cúng dường, và mua một món bị giới luật cấm.
Với lòng tin, chúng ta có thể nhìn ra đủ thứ hình Phật, Chúa, Tiên, Thánh... trên các chòm mây. Tất nhiên, nói thế chỉ đơn giản có ý rằng chính nhân loaị đã nhận ra đủ thứ hiện tượng tùy tâm hóa hiện. Có thể là có thật, cũng có thể là ảo tưởng. Nhưng ít nhất, niềm tin vào cảnh giới siêu hình sẽ gìn giữ chúng ta trong cương vực đaọ đức. Không dám làm ác nữa. Hoặc giả, sẽ giảm bớt làm ác.
Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng biệt, trong đó âm nhạc là một mảng gìn giữ di sản trao truyền nhiều đời. Dĩ nhiên, qua thời gian rồi sẽ có những mảng biến mất, nhưng không vì thế mà chúng ta phải hấp tấp chạy theo nhạc Tây,
Có cầu, tất có cung. Đó là quy luật thị trường. Tự nhiên như thế. Có những chuyện muôn đời đã thấy như thế. Cứ nhìn vào thị trường cũng thấy, các cửa khẩu biên giới đang là nơi tuôn vào gà lậu, gạo lậu, điện thoại lậu, vàng lậu, vân vân... nghĩa là đủ thứ thượng vàng hạ cám.
Người nông dân trước giờ được ca ngợi là chỗ dựa của đảng và nhà nước CSVN, nhưng bây giờ thì hết rồi. Bất kể rằng, nông dân thời nào cũng muốn bình yên, vì muốn lo chuyện cơm no, áo ấm là đủ.
Ngày xưa, đọc truyện Tàu, cứ nghe chuyện dân giang hồ ưa đặt trạm để thu tiền mãi lộ, tớ chẳng hiểu bao nhiêu. Bây giờ ngẫm chuyện nước mình thì mới ngộ ra lắm chuyện.
Một thời chúng ta nghe chuyện rằng xã hội chủ nghĩa là nơi ai cũng có cơ hội bình đẳng, nơi ai cũng “làm theo lao động, hưởng theo nhu cầu,” nhưng rồi những hình ảnh mơ tưởng này đã tan vỡ từ mấy thập niên nay, kể từ khi Miền Bắc khám phá ra một Miền Nam của thịnh vượng, của tự do, của dân chủ, và của tử tế nhiều lần hơn.
Có vẻ như Việt Nam đang lạm phát văn bằng. Kể cả văn bằng Tiến sĩ. Chuyện mới lạ, nước vẫn nghèo, mà văn bằng Tiến sĩ đầy phố, chẳng thấy phát minh gì, chỉ thấy “thật, giả” không còn phân biệt nổi.
Đất nước vẫn còn lúng túng, cứ như dường chưa biết phải đổi mới giáo dục ra sao để có thể chạy kịp với các nước láng giềng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.