Hôm nay,  

Dân Miền Tây & Cà Phê

09/01/200200:00:00(Xem: 6818)
Bạn,
Theo ghi nhận của một số nhà nghiên cứu nhân văn, hiện nay, tại một số thị xã ở miền Tây vẫn còn tồn tại một số quán cà phê bên hè có từ trước 1975. Mỗi quán cà phê đã trở thành một địa chỉ thân quen tiềm ẩn trong ký ức của nhiều người dân miền Tây từ lứa tuổi trung niên trở lên. Và trong khi loại hình cà phê "ôm", đã lan rộng đến tận nhiều xã ở miền Tây, thì tại các thị xã như Long Xuyên, Cần Thơ vẫn còn những quán cà phê bên lề đường dành cho những người khách "hoài cổ" và dân lao động như ghi nhận của một phóng viên báo Kinh Tế Sài Gòn qua đoạn ghi chép dưới đây.

Không giống như cái thức giấc của đô thị như Sài Gòn, các thị xã ở đồng bằng sông Cửu Long thức dậy chậm rãi và yên bình như một cô gái vươn vai e lệ. Để có thể cảm nhận cái thú như vậy, khách phương xa đến thường hay la cà ở các quán cà phê ven đường, ven chợ để thưởng thức buổi sáng. Ly cà phê ở các hàng cà phê bên chợ, bên hè ở đồng bằng không cầu kỳ, không kiểu cách nhưng cũng thơm nức mũi. Quán cà phê bên hè nằm cạnh một ngôi đình giữa lòng thành phố Long Xuyên. Người bán mặc quần cộc, bụng to phè, tay cầm một cái gáo múc nước sôi từ trong cái thùng đang sôi sùng sục, tay kia cầm cái vợt chứa đầy cà phê bột, đổ nước sôi vào và dùng cái muỗng dài khuấy đều. Đáy vợt cho ra dòng cà phê đen sánh, chảy vào cái ống nhôm đặt trên nồi nước sôi để giữ nóng. Lại cho đường vào cái "chệt đẽo" rót cà phê nóng vào đặt lên cái đĩa sành nhỏ cũ xì mang ra cho khách. Vậy là khách đã có được cái "xây chừng" (theo tiếng Hoa là cà phê nóng trong cái ly nhỏ). Còn cái chệt đẽo là cái ly chuyên dùng uống cà phê từ xưa lắm rồi. Nó làm bằng thủy tinh, thấp, có ngấn. Cừ bè bè như ông chủ quán người Hoa. Loại ly này tuy đơn giản như vậy nhưng ngày nay ít khi được nhìn thấy. Chỉ có 1 ngàn đồng một cái xây chừng. Giá rẻ bất ngờ. Có 1 ngàn đồng là được uống cà phê buổi sáng và có cả ký ức thời bé đi kèm nữa.

Hồi nhỏ, khi được đi cùng người ông đi uống cà phê sáng, tôi (phóng viên) chỉ được biết cà phê qua ly pạc xỉu, tức là ly sữa nóng nhỏ có pha một ít cà phê. Thi thoảng cũng được uống cà phê. Lớn hơn một tí cũng đã uống cà phê đen rồi. Bẵng đi nửa đời mới có thói quen ướng cà phê đen buổi sáng, mới biết thưởng thức, mới ghiền cà phê. Nhưng cái mùi vị cà phê bây giờ sao không giống như trước. Nó đắng và chát, nó thơm nhưng rất nồng, nó đen chứ không nâu và sền sệt như nước màu kho. Có một dạo, lâu lắm rồi, những năm 80, người dân cà phê còn uống cà phê cả cái lưng chừng. Chẳng qua cà phê đen được gọi là "xây chừng", lúc đó 1 đồng/1 ly. Còn sinh viên không tiền chỉ uống phân nửa thôi, mà chủ quán cũng chiếu cố bán nửa ly 50 xu, nên gọi là "lưng chừng". Có lúc dân đồng bằng có cái gu uống cà phê phải có bọt như bia, nên người ta phải đánh cho bọt trào lên miệng ly.

Bạn,
Cũng theo báo KTSG, gọi là uống cà phê nhưng la cà ở các quán mới nhận ra được rằng không chỉ là chuyện cà phê ngon hay dở mà chính là cái không khí của quán cà phê, cái góc nhìn xuống phố quen thuộc, cả những khách quen mặt nhưng chưa bắt chuyện được bao giờ, tất cả tạo nên cái chất khiến cho người ta ghiền cà phê hơn. Khách phương xa đến miền Tây có dịp cảm nhận cái không khí phố xá đồng bằng vừa thức giấc, bằng cách dậy sớm và uống cà phê bên hè của chủ quán người Hoa đang ưỡn bụng cười hềnh hệch, miệng nói "chẩu sành, chẩu sành" chào buổi sáng...

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.