Hôm nay,  

Làng Làm Vàng Mã

26/02/200300:00:00(Xem: 6394)
Bạn,
Theo báo SGGP, tại tỉnh Bắc Ninh, xưa kia cứ mỗi dịp xuân về, hàng đoàn thuyền đậu sẵn dưới bến sông Đuống hay xe cộ tấp nập qua lại chở tranh Đông Hồ mang bán khắp nơi cho cư dân quanh vùng treo trong những ngày Xuân. Nay tới Đông Hồ không còn cảnh bằng thuyền nữa, xe cộ vẫn ra vào, song không phải họ đến mua tranh, mà đến mua hàng... mã. Làng tranh Đông Hồ đã đổi thay khi cả làng chyển sang mưu sinh bằng nghề làm vàng mã. Báo SGGP đã viết về làng này như sau.
Đến Đông Hồ, phóng viên đã bắt gặp rất nhiều người đang thồ hàng mã từ làng đi ra. Hàng mã được luân chuyển bằng đủ thứ phương tiện, khách hàng nào mua nhiều chở bằng xe ô tô tải cỡ nhỏ, khách mua ít chở đi gần bằng xe máy, xe đạp... Thấy một thanh niên đang xếp hàng lên một xe máy ở ngay đầu làng, phóng viên đến hỏi thăm. Tưởng chúng tôi là khách đến cất hàng buôn sang Hà Nội, anh thanh niên vồn vã giới thiệu ngay: tất cả mọi thứ hàng mã ở đại lý nhà anh đều có đủ cả, nào nhà hai tầng, xe máy, quần áo... Nhấc thử ngôi nhà hai tầng vợ anh đang xếp, phóng viên thấy các chi tiết của căn nhà không thiếu một nét nhỏ nào, cánh cửa sổ, cửa ra vào... đều được in, dán đầy đủ. Vợ anh đon đả: "Các chú cứ yên tâm đi hàng nhà anh chị bán thì khỏi chê, mẫu mã đẹp, giá cả lại phải chăng". Chẳng thế không chỉ người miền Bắc mới mua hàng Đông Hồ, người miền Trung tận mãi Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh... cũng ra đóng hàng gửi xe khách vào trong đó bán. Khách mua hàng của vợ chồng anh thanh niên ở tận Bắc Giang còn bạn hàng gia đình có ở khắp nơi: Hải Dương, Hà Tây... chưa kể các mối ngoài Hà Nội.

Đi khắp làng đâu đâu phóng viên cũng thấy cảnh bận rộn vội vàng, người pha phẩm màu, nấu hồ quết bồi lên hàng mã. Chị H. đang nấu hồ cho phónhg viên biết, cháo hồ này làm bằng bột sắn nấu nhừ, quết lên cho cứng giấy. Mọi khoảng sân, bờ tường hay ngõ hẻm đều được tận dụng triệt để phơi giấy màu. Lòng vòng một lúc chúng tôi vào nhà bà B., thấy anh con trai bà đang trổ giấy phóng viên cứ ngỡ anh đang in tranh, anh K. cho biết anh làm công đoạn xén hàng loạt này đem dán vào các đôi hài, đôi giày. Nhà anh sản xuất đa dạng mặt hàng ai đặt gì làm nấy. Trông ra ngoài sân phóng viên có cảm giác ở trên dương thế có gì ở dưới âm có nấy. Chị vợ anh khoe, hôm nọ ra chợ Hà Đông bán hàng, có người đặt làm bộ đồ cắt tóc gửi cho ông chồng chết trẻ vì khi xưa còn sống ông làm nghề cắt tóc, chỉ một lúc anh chị làm xong nào gương lược, ghế, thậm chí có cả dao cạo râu. Bà B. cũng góp lời: nhà bà có người đến đặt nhiều thứ hàng độc chiêu lắm, con trai đang độ tuổi đi học chết, họ đặt mua cặp sách, máy vi tính. .. chỉ có điều làm bằng giấy cả. Khi phóng viên hỏi về nghề làm tranh, bà bồi hồi nhớ lại, nhà bà có mấy đời làm tranh, mỗi dịp Tết đến cả nhà đều đi bán tranh, sau đó tranh làm ra không tiêu thụ được đành bỏ nghề.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: theo ước tính, làng Đông Hồ có khoảng 350 gia đình với hơn 2 ngàn người, ai ai cũng đầu tư công sức, máy móc, tiền của vào nghề làm mã, họ trau chuốt cải tiến các phương pháp in lưới hay áp dụng cắt... còn chuyện làm tranh họ quên mất rồi. Bản khắc gỗ, pha màu, vẽ tranh... đã mai một đi, không còn nữa trong việc mưu sinh, truyền thống cũ đã không còn. Việc bỏ nghề của dân làng khiến kỹ thuật làm tranh ngày một nhạt phai đi, hy vọng khôi phục làng tranh xưa khó thành hiện thực.

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.