Hôm nay,  

Trẻ Em Xã “ăn Mày”

10/08/200000:00:00(Xem: 7048)
Bạn,
Chuyện anh hùng hảo hán trong làng cái bang thời xưa ở Trung Hoa từng là đề tài chính của một số phim bộ video Hồng Kông, thế nhưng những tập tục của dân cái bang bên Tàu mang mang nặng tính chất võ hiệp, không có những nét đặc thù như tập tục cái bang của một số thôn làng ở vài tỉnh Việt Nam.

Tại Thanh Hóa, tỉnh cực bắc của miền Trung, có xã Quảng Thái được mệnh danh là xã cái bang. Đó là một xã nghèo, cằn cỗi ven biển thuộc huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Đã từ rất lâu, nơi đây tồn tại một nghề kiếm sống theo tập tục được nhiều người biết đến: nghề ăn mày. Trong những ngày Tết Nguyên đán, hầu như cả xã đóng cửa lang thang đi ăn xin để tìm vận may (khước) cả tháng Giêng, sau một tháng lưu lạc để mưu sinh, các cái bang đợi đến ngày mùng một tháng Hai (âm lịch) mới trở về tế tổ “ăn mày” rất trọng thể rồi mới ăn Tết, đón Xuân. Do đặc thù của tập quán lâu đời, trong đội quân cái bang có nhiều trẻ em đã bị gia đình kéo vào con đường lang thang, ăn xin. Theo ghi nhận của báo Thanh Niên, trước hiện trạng xã hội đó, nhiều tổ chức từ thiện đã đề ra một chương trình để giúp các trẻ lang thang ở Quảng Thái hồi gia, ổn định cuộc sống, vươn đến tương lai. Thế nhưng trong tiến trình thực hiện, kế hoạch giúp trẻ xã cái bang đã không có kết quả tốt, dù các tổ chức đã hoạt động mạnh. Kể lại tình trạng trẻ em ở xã Quảng Thái, báo Thanh Niên đã ghi nhận như sau.

Tại Quảng Thái, mỗi trẻ em lang thang khi hồi gia, các tổ chức từ thiện giúp học văn hóa và học nghề miễn phí, ngoài ra các em còn được vay vốn 100 ngàn đồng để sản xuất. Do số vốn quá ít ỏi và sản phẩm các em làm ra còn thô sơ nên đã không tìm được thị trường tiêu thụ, hiện cả xã còn tồn đọng trên 500 triệu sản phẩm. Công tác vận động tư vấn cho trẻ em hồi gia ít hiệu quả bởi một phần do thù lao còn thấp. Mỗi tuyên truyền tham vấn chỉ được hưởng 20 ngàn đồng một tháng nên hoạt động chưa có chiều sâu. Kết quả chỉ mới tư vấn được 75 hộ, 61 người và 56 trẻ em. Chính vì vậy trẻ em lang thang hồi gia đang có nguy cơ tái lang thang.

Năm 1993 xã có đến 763 trẻ em lang thang, năm 1997 có 108 em, từ năm 1995 đến 1997, các tổ chức từ thiện đã mở 4 lớp học tình thương và 7 lớp học nghề (4 lớp đan lưới và 3 lớp đan chiếu cói), dành cho hơn 400 trẻ em lang thang, nhờ thế đến năm 1998 số trẻ em lang thang giảm xuống còn 50 em, thế nhưng qua đến 1999 đã lên tới 208 em và đến đầu năm 2000 là 231 em, trong đó đi chuyên nghiệp là 121, đi thời vụ là 110 em. Tại thời điểm này, nếu tính số trẻ em lang thang của 4 xã ven biển thuộc huyện Quảng Xương, Quảng Đại, Quảng Lộc, con số đã lên tới 1,200 trẻ em, một con số không nhỏ. Điều đáng nói là nhiều gia đình có nền kinh tế khá lại cố tình ép buộc con mình lang thang để hành nghề cái bang kiếm tiền về nộp cho gia đình. Nhiều bậc cha mẹ nhờ tiền kiếm được của con mà nhà cửa khang trang, bề thế.

Bạn,
Hiện nay vấn đề trẻ lang thang và kế hoạch giúp trẻ lang thang hồi gia đã vượt quá sức quá khả năng của các tổ chức từ thiện, xã hội địa phương, trong khi đó thì chính quyền CSVN huyện, tỉnh, các đoàn thể, các cơ quan chức năng ở tỉnh Thanh Hóa gần như vô trách nhiệm trước hiện trạng xã hội này, không có một dự án, một kế hoạch để giúp trẻ em yên tâm từ bỏ cuộc sống lang thang, cũng như không có biện pháp cứng rắn đối với những gia đình khá giả mà vẫn bắt con đi làm đệ tử cái bang. Những gia đình đó quan niệm rằng phải làm như thế thì mới đi đúng con đường tổ nghiệp!

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.