Hôm nay,  

Làm Phim Để Nhập Kho

04/04/200400:00:00(Xem: 8110)
Bạn,
Theo báo quốc nội, hiện nay muốn làm 1 bộ phim nhựa, nhà sản xuất phải chi ít nhất 1 tỉ đồng. Mấy năm gần đây, nhiều bộ phim được nhà nước CSVN tài trợ (hoặc đặt hàng) nhiều tỉ đồng, với chương trình đầu tư sản xuất khá quy mô từ kinh phí, kế hoạch, trình duyệt đến thực hiện để chiếu vào những dịp lễ. Mục đích của những bộ phim này là phải thu hút được nhiều khán giả đến xem. Nhưng trên thực tế, phim cao nhất cũng chỉ có vài ngàn hoặc vài trăm lượt người xem. Có nhiều phim chỉ chiếu được duy nhất một buổi ra mắt vào đúng ngày kỷ niệm, sau đó mau chóng... nhập kho, như: "Người đi tìm giấc mơ", "Biển đợi"... Ngay cả bộ phim vừa đoạt Cánh diều Vàng "Người đàn bà mộng du" cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Báo Người Lao Động viết như sau.
Những bộ phim được tài trợ lớn do không được đầu tư một cách thỏa đáng về quảng cáo, thời điểm đưa phim ra rạp không thích hợp... nên sự thu hút công chúng còn ở mức hạn chế. Đây cũng là một thói quen cố hữu từ thời còn bao cấp: Các hãng sản xuất đưa phim cho cơ quan phát hành là xem như "đã xong" nhiệm vụ, hầu như không cần biết bộ phim đó có đến được với người xem hay không, lỗ lãi ra sao, vì việc đó đã có những người làm công tác phổ biến phim phải lo.
Khi một phim chuyển sang cơ quan phổ biến phim, ngoài việc xác định đối tượng và khả năng thu hút của nó để đề ra cách phát hành phù hợp, những người làm công tác này phải dự trù kinh phí quảng cáo cho phim. Song vấn đề tồn tại bấy lâu trong điện ảnh Việt Nam là: Chi tiền tỉ cho sản xuất phim, còn đầu tư cho việc quảng cáo dường như ít được quan tâm. Chi phí quảng cáo cho mỗi bộ phim chỉ khoảng trên dưới 10 triệu đồng. Số tiền này chỉ đủ làm tờ rơi, áp phích, bộ ảnh, băng-rôn treo trước rạp... Còn chuyện quảng cáo như các sản phẩm hàng hóa khác trên báo chí, nhất là trên truyền hình thì hãy còn bất cập vì không đủ chi phí.

Ở các nước có nền điện ảnh phát triển, kinh phí quảng cáo cho bộ phim thường chiếm 30% vốn sản xuất phim. Khi bộ phim chuẩn bị bấm máy, chiến dịch quảng cáo cũng bắt đầu rầm rộ. Các đối tác đưa phim nước ngoài vào chiếu ở Việt Nam luôn đặt công tác quảng cáo phim lên hàng đầu trước khi bộ phim được chiếu chính thức, chưa kể trước đó, qua việc thông tin, các bộ phim này đã được quảng cáo miễn phí trên các phương tiện thông tin ở VN (như các phim "Chúa tể của những chiếc nhẫn" (phần I), "Trân Châu cảng", "Người hùng"... chẳng hạn). Và riêng cho quảng cáo, họ đã chi từ 300 - 400 triệu đồng, hoặc ít nhất cũng phải trên 100 triệu đồng/phim. Mới đây, khi phát hành các phim "Lưới trời, Gái nhảy và Lọ lem hè phố", các nhà sản xuất phim VN đã mạnh dạn dám chi đến hơn 100 triệu đồng/phim cho quảng cáo và hiệu quả của sự đầu tư này đã góp phần đáng kể trong việc lôi kéo một số lượng lớn người xem tới rạp.
Bạn,
Báo NLĐ cho rằng việc đầu tư cho công tác quảng cáo không được các hãng phim VN quan tâm đúng mức, nên không thu hút được công chúng đến với phim Việt Nam một cách tích cực và hiệu quả nhất. Do đó, dù có bỏ ra hàng tỉ đồng để sản xuất phim mà hiệu quả không đến được người xem thì khác nào đem tiền đổ sông đổ biển.

Núi Cấm vẫn không ngưng các huyền thoại: từ nơi tu hành của các bậc kỳ nhân, cho tới nơi ẩn tích của các đaị võ sư danh trấn giang hồ, tới chuyện cọp ra nằm nghe tụng kinh.... và bây giờ là chuyện đại gia lên núi Cấm mua đất 'long mạch' để con cháu đời đời giàu sang phú quý.
Chuyện vừa mới xảy ra tại VN, làm biết bao nhiêu Phật Tử nản lòng: một nhà sư lên sân khấu hôn môi với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. Chưa hết, đây là buổi văn nghệ gây quỹ, nghĩa là sư đã phạm giới vui chơi văn nghệ. Chưa hết, sư lại lấy tiền ra mua một chai rượu -- Nghĩa là xài tiền chúng sinh cúng dường, và mua một món bị giới luật cấm.
Với lòng tin, chúng ta có thể nhìn ra đủ thứ hình Phật, Chúa, Tiên, Thánh... trên các chòm mây. Tất nhiên, nói thế chỉ đơn giản có ý rằng chính nhân loaị đã nhận ra đủ thứ hiện tượng tùy tâm hóa hiện. Có thể là có thật, cũng có thể là ảo tưởng. Nhưng ít nhất, niềm tin vào cảnh giới siêu hình sẽ gìn giữ chúng ta trong cương vực đaọ đức. Không dám làm ác nữa. Hoặc giả, sẽ giảm bớt làm ác.
Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng biệt, trong đó âm nhạc là một mảng gìn giữ di sản trao truyền nhiều đời. Dĩ nhiên, qua thời gian rồi sẽ có những mảng biến mất, nhưng không vì thế mà chúng ta phải hấp tấp chạy theo nhạc Tây,
Có cầu, tất có cung. Đó là quy luật thị trường. Tự nhiên như thế. Có những chuyện muôn đời đã thấy như thế. Cứ nhìn vào thị trường cũng thấy, các cửa khẩu biên giới đang là nơi tuôn vào gà lậu, gạo lậu, điện thoại lậu, vàng lậu, vân vân... nghĩa là đủ thứ thượng vàng hạ cám.
Người nông dân trước giờ được ca ngợi là chỗ dựa của đảng và nhà nước CSVN, nhưng bây giờ thì hết rồi. Bất kể rằng, nông dân thời nào cũng muốn bình yên, vì muốn lo chuyện cơm no, áo ấm là đủ.
Ngày xưa, đọc truyện Tàu, cứ nghe chuyện dân giang hồ ưa đặt trạm để thu tiền mãi lộ, tớ chẳng hiểu bao nhiêu. Bây giờ ngẫm chuyện nước mình thì mới ngộ ra lắm chuyện.
Một thời chúng ta nghe chuyện rằng xã hội chủ nghĩa là nơi ai cũng có cơ hội bình đẳng, nơi ai cũng “làm theo lao động, hưởng theo nhu cầu,” nhưng rồi những hình ảnh mơ tưởng này đã tan vỡ từ mấy thập niên nay, kể từ khi Miền Bắc khám phá ra một Miền Nam của thịnh vượng, của tự do, của dân chủ, và của tử tế nhiều lần hơn.
Có vẻ như Việt Nam đang lạm phát văn bằng. Kể cả văn bằng Tiến sĩ. Chuyện mới lạ, nước vẫn nghèo, mà văn bằng Tiến sĩ đầy phố, chẳng thấy phát minh gì, chỉ thấy “thật, giả” không còn phân biệt nổi.
Đất nước vẫn còn lúng túng, cứ như dường chưa biết phải đổi mới giáo dục ra sao để có thể chạy kịp với các nước láng giềng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.