Hôm nay,  

Làm Giấy Ơû Rừng

14/05/200200:00:00(Xem: 5864)

Bạn,
Theo báo Tuổi Trẻ, từ một bài viết về lễ hội chơi diều của người sắc tộc Raglai tại tỉnh Ninh Thuận, một số nhà nghiên cứu người Nhật đã phát giác ra kỹ thuật làm giấy của dân sắc tộc này. Hóa ra, người Raglai đã biết làm giấy từ lâu đời. Đến Ninh Thuận các nhà nghiên cứu lại được biết: “Ngày xưa người Raglai làm giấy và người Chăm viết chữ...” Câu chuyện về nghề làm giấy của dân sắc tộc Raglai đã được phóng viên báo TT ghi nhận như sau qua cuộc tiếp xúc với một nghệ nhân cao niên tại một làng của người Raglai ở Ninh Thuận.
Cách thị xã Phan Rang 50 km đường bộ, thôn giá của xã Phước Hà nằm dựa lưng vào núi Parapo, dãy núi mà người Raglai còn gọi là núi Nhọn. Ông Ô Rai Tiêu chỉ tay: Đây là một nhánh của dãy Trường Sơn đó, bà con người Raglai ở đây từ bao đời nay rồi. Cạnh lòng hồ Tân Giang, nhìn những xóm nhà thưa thớt, xác xơ trong cơn nắng hạn, không ai ngờ nơi đây là cái nôi phát sinh nghề làm giấy truyền thống của người Raglai.

Ông Ô Rai Tiêu ngồi xuống trong gian bếp chật hẹp bắt đầu kể về nghề giấy ”có từ đời xa xưa nào đó”. Người Raglai làm giấy xuất phát từ thú chơi thả diều. Hàng năm lễ hợi Papăn Kalang Pô Giang In (thả diều mừng ngài Pô Giang In) qui tụ rất đông con gái con trai, người già, người trẻ thả diều. Nghề làm giấy may diều cũng có tuổi giống như tuổi của người sắc tộc Raglai, không xác định được thời gian xuất hiện từ bao giờ. Để làm giấy người Ragali phải vào rừng tìm cây sanh, cây si và cây bồ đề. Dùng dao, rựa tước vỏ cây, bỏ lớp ngoài rồi cột lấy lớp vỏ lụa bên trong, đem về băm nhỏ trộn với tro cho vào lu đất buộc thật mềm. Luộc xong đem ra suối rửa sạch tro, rồi cho vỏ cây đã luộc vào cối giã thành bột. “Giả phải thật nhuyễn, mịn thì chất lượng giấy mới tốt, xong đem đổ tất cả vào lu, dùng cây tre khuấy đều, gạn lọc nhiều lần bằng vải thưa cho bột tơi ra thật mịn. Sau đó lấy bẹ chuối bè thành những chiếc khuôn hình vuông to nhỏ tùy ý. Trên mỗi chiếc khuôn phủ một tấm vải mỏng, thưa, dùng gai hoặc tre vót nhọn cắm căng tấm vải để chuẩn bị tráng bột giấy. Tiếp theo ra bờ suối, đào lõm một khoảng đất, muốn làm bao nhiêu tấm giấy thì đào bấy nhiêu chỗ lõm, sau đó dẫn nước suối vào để cho nước tĩnh, đặt tấm khuôn nổi trên mặt nước, rồi múc bột trong lu tráng đều lên trên mặt vải. Cứ nhìn cái khuông, chỗ nào thấy vải là giấy bị mỏng quá, chỗ nào không thấy vải là giấy hơi dày, phải tráng đều. Tráng xong thì tháo nước từ từ cho khuôn hạ xuống. Phải tháo từ từ, nếu không mặt giấy bị nhăn nhúm ngay. Sau đó nhấc khuôn giấy đem lên phơi trong bóng râm, đặt khuôn hơi nghiêng để giấy mau ráo nước rồi đem phơi nắng ép giữa hai tấm ván cho thẳng, khi khô hẳn là có thể dùng được.
Bạn,
Phóng viên TT kể tiếp: Ông Ô Rai Tiêu cầm trên tay một mảnh giấy còn giữ được thuở nào, chỉ cho phóng viên TT xem chỗ dày, chỗ mỏng. Ông tỏ ý tiếc không thể làm ngay một mẻ giấy vì “mùa này năm nay hạn quá, các con suối gần như khô hết nước. Với lại nếu còn trẻ, có đi xa bao nhiêu để lấy vỏ cây, chúng tôi cũng đi được, thích làm diều quá mà, bây giờ thì phải sáng sớm, mát trời mới lên núi nổi”, đôi mắt của ông già Raglai 71 tuổi hấp háp cười.

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.