Hôm nay,  

Làm Giấy Ơû Rừng

14/05/200200:00:00(Xem: 5868)

Bạn,
Theo báo Tuổi Trẻ, từ một bài viết về lễ hội chơi diều của người sắc tộc Raglai tại tỉnh Ninh Thuận, một số nhà nghiên cứu người Nhật đã phát giác ra kỹ thuật làm giấy của dân sắc tộc này. Hóa ra, người Raglai đã biết làm giấy từ lâu đời. Đến Ninh Thuận các nhà nghiên cứu lại được biết: “Ngày xưa người Raglai làm giấy và người Chăm viết chữ...” Câu chuyện về nghề làm giấy của dân sắc tộc Raglai đã được phóng viên báo TT ghi nhận như sau qua cuộc tiếp xúc với một nghệ nhân cao niên tại một làng của người Raglai ở Ninh Thuận.
Cách thị xã Phan Rang 50 km đường bộ, thôn giá của xã Phước Hà nằm dựa lưng vào núi Parapo, dãy núi mà người Raglai còn gọi là núi Nhọn. Ông Ô Rai Tiêu chỉ tay: Đây là một nhánh của dãy Trường Sơn đó, bà con người Raglai ở đây từ bao đời nay rồi. Cạnh lòng hồ Tân Giang, nhìn những xóm nhà thưa thớt, xác xơ trong cơn nắng hạn, không ai ngờ nơi đây là cái nôi phát sinh nghề làm giấy truyền thống của người Raglai.

Ông Ô Rai Tiêu ngồi xuống trong gian bếp chật hẹp bắt đầu kể về nghề giấy ”có từ đời xa xưa nào đó”. Người Raglai làm giấy xuất phát từ thú chơi thả diều. Hàng năm lễ hợi Papăn Kalang Pô Giang In (thả diều mừng ngài Pô Giang In) qui tụ rất đông con gái con trai, người già, người trẻ thả diều. Nghề làm giấy may diều cũng có tuổi giống như tuổi của người sắc tộc Raglai, không xác định được thời gian xuất hiện từ bao giờ. Để làm giấy người Ragali phải vào rừng tìm cây sanh, cây si và cây bồ đề. Dùng dao, rựa tước vỏ cây, bỏ lớp ngoài rồi cột lấy lớp vỏ lụa bên trong, đem về băm nhỏ trộn với tro cho vào lu đất buộc thật mềm. Luộc xong đem ra suối rửa sạch tro, rồi cho vỏ cây đã luộc vào cối giã thành bột. “Giả phải thật nhuyễn, mịn thì chất lượng giấy mới tốt, xong đem đổ tất cả vào lu, dùng cây tre khuấy đều, gạn lọc nhiều lần bằng vải thưa cho bột tơi ra thật mịn. Sau đó lấy bẹ chuối bè thành những chiếc khuôn hình vuông to nhỏ tùy ý. Trên mỗi chiếc khuôn phủ một tấm vải mỏng, thưa, dùng gai hoặc tre vót nhọn cắm căng tấm vải để chuẩn bị tráng bột giấy. Tiếp theo ra bờ suối, đào lõm một khoảng đất, muốn làm bao nhiêu tấm giấy thì đào bấy nhiêu chỗ lõm, sau đó dẫn nước suối vào để cho nước tĩnh, đặt tấm khuôn nổi trên mặt nước, rồi múc bột trong lu tráng đều lên trên mặt vải. Cứ nhìn cái khuông, chỗ nào thấy vải là giấy bị mỏng quá, chỗ nào không thấy vải là giấy hơi dày, phải tráng đều. Tráng xong thì tháo nước từ từ cho khuôn hạ xuống. Phải tháo từ từ, nếu không mặt giấy bị nhăn nhúm ngay. Sau đó nhấc khuôn giấy đem lên phơi trong bóng râm, đặt khuôn hơi nghiêng để giấy mau ráo nước rồi đem phơi nắng ép giữa hai tấm ván cho thẳng, khi khô hẳn là có thể dùng được.
Bạn,
Phóng viên TT kể tiếp: Ông Ô Rai Tiêu cầm trên tay một mảnh giấy còn giữ được thuở nào, chỉ cho phóng viên TT xem chỗ dày, chỗ mỏng. Ông tỏ ý tiếc không thể làm ngay một mẻ giấy vì “mùa này năm nay hạn quá, các con suối gần như khô hết nước. Với lại nếu còn trẻ, có đi xa bao nhiêu để lấy vỏ cây, chúng tôi cũng đi được, thích làm diều quá mà, bây giờ thì phải sáng sớm, mát trời mới lên núi nổi”, đôi mắt của ông già Raglai 71 tuổi hấp háp cười.

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.