Hôm nay,  

Làm Giấy Ơû Rừng

14/05/200200:00:00(Xem: 5542)

Bạn,
Theo báo Tuổi Trẻ, từ một bài viết về lễ hội chơi diều của người sắc tộc Raglai tại tỉnh Ninh Thuận, một số nhà nghiên cứu người Nhật đã phát giác ra kỹ thuật làm giấy của dân sắc tộc này. Hóa ra, người Raglai đã biết làm giấy từ lâu đời. Đến Ninh Thuận các nhà nghiên cứu lại được biết: “Ngày xưa người Raglai làm giấy và người Chăm viết chữ...” Câu chuyện về nghề làm giấy của dân sắc tộc Raglai đã được phóng viên báo TT ghi nhận như sau qua cuộc tiếp xúc với một nghệ nhân cao niên tại một làng của người Raglai ở Ninh Thuận.
Cách thị xã Phan Rang 50 km đường bộ, thôn giá của xã Phước Hà nằm dựa lưng vào núi Parapo, dãy núi mà người Raglai còn gọi là núi Nhọn. Ông Ô Rai Tiêu chỉ tay: Đây là một nhánh của dãy Trường Sơn đó, bà con người Raglai ở đây từ bao đời nay rồi. Cạnh lòng hồ Tân Giang, nhìn những xóm nhà thưa thớt, xác xơ trong cơn nắng hạn, không ai ngờ nơi đây là cái nôi phát sinh nghề làm giấy truyền thống của người Raglai.

Ông Ô Rai Tiêu ngồi xuống trong gian bếp chật hẹp bắt đầu kể về nghề giấy ”có từ đời xa xưa nào đó”. Người Raglai làm giấy xuất phát từ thú chơi thả diều. Hàng năm lễ hợi Papăn Kalang Pô Giang In (thả diều mừng ngài Pô Giang In) qui tụ rất đông con gái con trai, người già, người trẻ thả diều. Nghề làm giấy may diều cũng có tuổi giống như tuổi của người sắc tộc Raglai, không xác định được thời gian xuất hiện từ bao giờ. Để làm giấy người Ragali phải vào rừng tìm cây sanh, cây si và cây bồ đề. Dùng dao, rựa tước vỏ cây, bỏ lớp ngoài rồi cột lấy lớp vỏ lụa bên trong, đem về băm nhỏ trộn với tro cho vào lu đất buộc thật mềm. Luộc xong đem ra suối rửa sạch tro, rồi cho vỏ cây đã luộc vào cối giã thành bột. “Giả phải thật nhuyễn, mịn thì chất lượng giấy mới tốt, xong đem đổ tất cả vào lu, dùng cây tre khuấy đều, gạn lọc nhiều lần bằng vải thưa cho bột tơi ra thật mịn. Sau đó lấy bẹ chuối bè thành những chiếc khuôn hình vuông to nhỏ tùy ý. Trên mỗi chiếc khuôn phủ một tấm vải mỏng, thưa, dùng gai hoặc tre vót nhọn cắm căng tấm vải để chuẩn bị tráng bột giấy. Tiếp theo ra bờ suối, đào lõm một khoảng đất, muốn làm bao nhiêu tấm giấy thì đào bấy nhiêu chỗ lõm, sau đó dẫn nước suối vào để cho nước tĩnh, đặt tấm khuôn nổi trên mặt nước, rồi múc bột trong lu tráng đều lên trên mặt vải. Cứ nhìn cái khuông, chỗ nào thấy vải là giấy bị mỏng quá, chỗ nào không thấy vải là giấy hơi dày, phải tráng đều. Tráng xong thì tháo nước từ từ cho khuôn hạ xuống. Phải tháo từ từ, nếu không mặt giấy bị nhăn nhúm ngay. Sau đó nhấc khuôn giấy đem lên phơi trong bóng râm, đặt khuôn hơi nghiêng để giấy mau ráo nước rồi đem phơi nắng ép giữa hai tấm ván cho thẳng, khi khô hẳn là có thể dùng được.
Bạn,
Phóng viên TT kể tiếp: Ông Ô Rai Tiêu cầm trên tay một mảnh giấy còn giữ được thuở nào, chỉ cho phóng viên TT xem chỗ dày, chỗ mỏng. Ông tỏ ý tiếc không thể làm ngay một mẻ giấy vì “mùa này năm nay hạn quá, các con suối gần như khô hết nước. Với lại nếu còn trẻ, có đi xa bao nhiêu để lấy vỏ cây, chúng tôi cũng đi được, thích làm diều quá mà, bây giờ thì phải sáng sớm, mát trời mới lên núi nổi”, đôi mắt của ông già Raglai 71 tuổi hấp háp cười.

Trong số các huyện ngoại thành Sài Gòn, huyện Cần Giờ là huyện nghèo nhất. Do diện tích trồng trọt quá ít, nhiều gia đình nông dân mưu sinh bằng nghề nuôi trồng thủy sản, trong đó, nuôi tôm là nguồn mưu sinh chính. Thế nhưng, theo báo SGGP, trong 6 tháng đầu năm 2004, nhiều gia đình cư dân ở huyện Cần Giờ mưu sinh bằng nghề nuôi tôm đã khốn đốn vì nạn trộm tôm
Họ là những cư dân đang tạm cư tại Sài Gòn, không có giấy tờ tùy thân, không có sổ gia đình (trong nước gọi là "hộ khẩu"). Và mặc nhiên, khi lập gia đình, họ lại sinh ra một thế hệ tiếp tục đứng bên lề xã hội, sống một cuộc đời không tên. Báo SGGP ghi nhận về tình cảnh này như sau.
Hệ thống sông rạch trên địa bàn thành phố Sài Gòn đã bị san lấp, lấn chiếm lung tung. Các cơ quan chức năng quản lý kiểm tra, phát giác vi phạm thì nhiều nhưng xử lý được rất ít. Một số sông rạch đã và đang bị "xoá tên". Báo Người Lao Động trình bày về hiện trạng này như sau.
Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông dành cho học sinh lớp 12 (tú tài) tại VN đã kết thúc vào thượng tuần tháng 6/2004. Đánh giá về trình độ thí sinh, nhiều giám khảo về môn Văn và Ngoại ngữ nhận xét rằng có nhiều học sinh quá kém. Riêng về môn Văn, các giáo viên chấm thi đã phải than rằng "văn chương của các cô tu,ù cậu tú khiếp quá, đọc lại mà cười, suy ngẫm mà rơi nước mắt.
Trong suốt 3 tuần qua, nhiều cửa hàng cầm đồ trên địa bàn Sài Gòn đã đóng cửa rất muộn. Khách hàng của các cửa hàng này là dân thua cá độ các trận túc cầu Euro, từ vòng loại, tứ kết, bán kết. Tại một số quận, có cả khu phố cầm đồ với hàng loạt cửa hàng hoạt động hết "công suất" để cung ứng kịp thời số tiền vay nóng của khách thuộc nhiều thành phần
Nơi đây không phải là trẻ em nghèo kiếm sống kiểu như bán vé số, bán dạo, hay phụ việc quán ăn, xưởng dệt, lò bánh, như VB đã từng đề cập qua các lá thư trước. Đây là chuyện của các em sinh ra trong các gia đình khá giả, đã biết kiếm tiền bằng những việc làm mà phụ huynh không thể ngờ đến. Báo Sài Gòn Tiếp Thị ghi lại một số trường hợp như sau.
Sài Gòn có nhiều vùng sông nước giáp ranh với các tỉnh. Do nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ xây dựng trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận tăng cao, cát trở thành mặt hàng "nóng". Tận dụng cơ hội này, "sa tặc" nhảy vào khai thác , nạo vét tận thu cát lòng sông. Tình trạng này đã dẫn đến các vụ sạt lở đất dọc theo bờ sông.
Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, ven quốc lộ 1 A, có 1 trường đá gà liên tỉnh. Tụ điểm cờ bạc này cách thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong 6-7 km ngay cạnh mỏ đá Phong Phú. Nơi đây thu hút dân chơi gà độ từ nhiều tỉnh kéo về. Tụ điểm cờ bạc này diễn ra hơn 1 năm nay, dân chơi quen gọi trường gà này là Phan Rí vì ông chủ tên Thuận
Những phụ nữ được nhắc đến trong lá thư này là nhưnõg người làm nghề đập đá, nung vôi, suốt ngày lam lũ kiếm sống ở các mỏ đá thuộc khu vực núi Cấm, núi Dài ở An Giang hoặc khu vực Hòn Đất-Kiên Giang. Nhiều người chưa có gia đình, không có đất đai canh tác .Báo Người Lao Động ghi nhận về tình cảnh của những phụ nữ này qua đoạn ký sự như sau.
Quán cóc có ảnh hưởng lớn trong đời sống ẩm thực và trở thành một nét văn hoá sinh hoạt bình dân của người Việt. Tự thuở có ông vua si tình đi tìm cô Tấm đã có quán cóc, đã có bà già têm trầu cánh phượng. Rồi phiêu dạt qua miền thời gian Trung đại với hình ảnh những cụ đồ Nho ngồi luận chữ nghĩa "Thiên- Địa- Nhân hợp nhất" trên những chõng tre quán cóc chè xanh đầu ngõ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.