Hôm nay,  

Làng Giữa Vùng Núi Đá

28/12/200100:00:00(Xem: 6052)
Bạn,
Ngôi làng được nhắc dến trong lá thư này là một làng nghèo nhất của huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Làng ở giữa vùng núi đá, chỉ có một con đường độc đạo, không có trường học, không có công trình thủy lợi, mỗi năm dân trong làng chỉ đủ ăn 8 tháng, 4 tháng còn lại là những ngày đói khổ. Vừa qua, phóng viên NLĐ đến thăm làng và ghi lại tình cảnh của dân làng qua đoạn ghi chép như sau.

Đá Kẹp là tên xưa của làng. Ngôi làng nằm khuất giữa núi Đá Kẹp và sông Đá Kẹp. Bây giờ làng có tên mới là Phú Hải nhưng người dân vẫn gọi tên cũ của làng. Đá Kẹp thuộc xã Lộc Vĩnh, Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Từ bao đời qua, Đá Kẹp vẫn đói nghèo. Ở Đá Kẹp, ai cũng túng thiếu, mặt mày da dẻ cứ nhăn nhúm lại. Trước đây, mấy năm, phụ nữ ở làng Đá Kẹp muốn đi chợ phải dậy từ lúc ba, bốn giờ sáng gánh rau lội sông Đá Kẹp nước sâu đến ngang cổ rồi mới qua được phía bên kia để bán. Lúc nào mưa lớn, lũ về, cả làng không đi đâu được. May nhờ có chương trình của Liên Hiệp Quốc đầu tư làm chiếc cầu qua sông nên từ năm 1994, giao thông đi lại của người dân mới khỏi bị động.

Ở Đá Kẹp cái gì cũng không có. Gần 300 làng đã sống cách biệt như vậy nhưng không có trạm y tế. Không có trường cho học sinh tiểu học. Muốn đến trường các đứa bé từ lớp 1 phải đi bộ đến năm, sáu km. Lớp mẫu giáo không có phòng để học, phải mượn tạm nhà dân. Trời mưa, nước dội xuống nhiều, cô trò nhìn nhau mà chảy nước mắt. Thương cho con trẻ, bà con trong làng góp tiền xây trường nhưng mới xây được bốn bức tường thì phải dừng lại, vì hết tiền. Tối đến, cả làng dùng đèn dầu thắp sáng vì chưa có điện. Phó thôn Hồ Trọng Vinh cho biết, từ sau năm 1975 đến nay, Đá Kẹp chưa bao giờ được tỉnh đầu tư xây dựng công trình thủy lợi. Mùa màng thất bát liên tục. Cả làng có gần 50 ha đất nông nghiệp vừa làm lúa vừa trồng màu. Ruộng xấu nên năng suất lúa rất thấp. Mỗi năm, người dân làng Đá Kẹp chỉ đủ sống trong tám tháng là mừng lắm rồi.

Sống nhờ vào cây lúa không đủ, đa số người dân Đá Kẹp phải nhờ rừng dẻ của làng. Anh Trần Đình Tuấn, một nông dân của làng, mời phóng viên báo NLĐ vào nhà uống nước, chỉ tay vào đống củi nói: "Mỗi ngày hái củi vất vả cũng chỉ bán được 10 ngàn đồng, thế nhưng cả nhà đã mừng lắm". Ngoài đi củi, người dân ở đây không biết làm gì để sống.

Bạn,
Cũng theo ghi nhận của phóng viên NLĐ, trong khi sản lượng lúa gạo thu hoạch từ mỗi vụ mùa rất ít, đất đai canh tác cũng quá ít, Thế nhưng người dân Đá Kẹp sinh đẻ quá nhiều. Nhà nào cũng có bảy, tám đứa con. Nhà phó thôn Vinh cũng có bảy đứa con. Đứa lớn nhất mới học xong lớp 6 phải nghỉ học, ở nhà. Trong làng trẻ em nhiều hơn người lớn. Mới đây, ủy ban xã Lộc Vĩnh hứa lập dự án kéo điện về cho Đá Kẹp với tổng mức đầu tư 500 triệu đồng, trong đó dân làng phải góp vào 90 triệu đồng. Tin vui thật, nhưng cả làng Đá Kẹp không biết kiếm đâu ra một khoản tiền lớn như vậy để góp chung với xã. Hai mùa liên tiếp đi qua dân làng đã thất bát rồi. Rừng dẻ nghe đâu đã được ngành du lịch quy hoạch đưa vào khu du lịch sinh thái. Vậy là củi dẻ cũng hết luôn, và người dân Đá Kẹp phải đối mặt với đói nghèo quanh năm.

Trong số các huyện ngoại thành Sài Gòn, huyện Cần Giờ là huyện nghèo nhất. Do diện tích trồng trọt quá ít, nhiều gia đình nông dân mưu sinh bằng nghề nuôi trồng thủy sản, trong đó, nuôi tôm là nguồn mưu sinh chính. Thế nhưng, theo báo SGGP, trong 6 tháng đầu năm 2004, nhiều gia đình cư dân ở huyện Cần Giờ mưu sinh bằng nghề nuôi tôm đã khốn đốn vì nạn trộm tôm
Họ là những cư dân đang tạm cư tại Sài Gòn, không có giấy tờ tùy thân, không có sổ gia đình (trong nước gọi là "hộ khẩu"). Và mặc nhiên, khi lập gia đình, họ lại sinh ra một thế hệ tiếp tục đứng bên lề xã hội, sống một cuộc đời không tên. Báo SGGP ghi nhận về tình cảnh này như sau.
Hệ thống sông rạch trên địa bàn thành phố Sài Gòn đã bị san lấp, lấn chiếm lung tung. Các cơ quan chức năng quản lý kiểm tra, phát giác vi phạm thì nhiều nhưng xử lý được rất ít. Một số sông rạch đã và đang bị "xoá tên". Báo Người Lao Động trình bày về hiện trạng này như sau.
Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông dành cho học sinh lớp 12 (tú tài) tại VN đã kết thúc vào thượng tuần tháng 6/2004. Đánh giá về trình độ thí sinh, nhiều giám khảo về môn Văn và Ngoại ngữ nhận xét rằng có nhiều học sinh quá kém. Riêng về môn Văn, các giáo viên chấm thi đã phải than rằng "văn chương của các cô tu,ù cậu tú khiếp quá, đọc lại mà cười, suy ngẫm mà rơi nước mắt.
Trong suốt 3 tuần qua, nhiều cửa hàng cầm đồ trên địa bàn Sài Gòn đã đóng cửa rất muộn. Khách hàng của các cửa hàng này là dân thua cá độ các trận túc cầu Euro, từ vòng loại, tứ kết, bán kết. Tại một số quận, có cả khu phố cầm đồ với hàng loạt cửa hàng hoạt động hết "công suất" để cung ứng kịp thời số tiền vay nóng của khách thuộc nhiều thành phần
Nơi đây không phải là trẻ em nghèo kiếm sống kiểu như bán vé số, bán dạo, hay phụ việc quán ăn, xưởng dệt, lò bánh, như VB đã từng đề cập qua các lá thư trước. Đây là chuyện của các em sinh ra trong các gia đình khá giả, đã biết kiếm tiền bằng những việc làm mà phụ huynh không thể ngờ đến. Báo Sài Gòn Tiếp Thị ghi lại một số trường hợp như sau.
Sài Gòn có nhiều vùng sông nước giáp ranh với các tỉnh. Do nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ xây dựng trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận tăng cao, cát trở thành mặt hàng "nóng". Tận dụng cơ hội này, "sa tặc" nhảy vào khai thác , nạo vét tận thu cát lòng sông. Tình trạng này đã dẫn đến các vụ sạt lở đất dọc theo bờ sông.
Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, ven quốc lộ 1 A, có 1 trường đá gà liên tỉnh. Tụ điểm cờ bạc này cách thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong 6-7 km ngay cạnh mỏ đá Phong Phú. Nơi đây thu hút dân chơi gà độ từ nhiều tỉnh kéo về. Tụ điểm cờ bạc này diễn ra hơn 1 năm nay, dân chơi quen gọi trường gà này là Phan Rí vì ông chủ tên Thuận
Những phụ nữ được nhắc đến trong lá thư này là nhưnõg người làm nghề đập đá, nung vôi, suốt ngày lam lũ kiếm sống ở các mỏ đá thuộc khu vực núi Cấm, núi Dài ở An Giang hoặc khu vực Hòn Đất-Kiên Giang. Nhiều người chưa có gia đình, không có đất đai canh tác .Báo Người Lao Động ghi nhận về tình cảnh của những phụ nữ này qua đoạn ký sự như sau.
Quán cóc có ảnh hưởng lớn trong đời sống ẩm thực và trở thành một nét văn hoá sinh hoạt bình dân của người Việt. Tự thuở có ông vua si tình đi tìm cô Tấm đã có quán cóc, đã có bà già têm trầu cánh phượng. Rồi phiêu dạt qua miền thời gian Trung đại với hình ảnh những cụ đồ Nho ngồi luận chữ nghĩa "Thiên- Địa- Nhân hợp nhất" trên những chõng tre quán cóc chè xanh đầu ngõ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.