Hôm nay,  

Chiếc Nón Của Tình Yêu

17/08/200200:00:00(Xem: 5836)
Bạn,
Quảng Ngãi có một làng nghề làm nón nổi tiếng từ trước 1945. Đó là làng nón Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh. Nón của làng này nổi tiếng đẹp, bền, và đã có một thời gian dài, thương khách khắp nơi đến đây mua về bán. Không chỉ nổi tiếng về thương hiệu, hình ảnh nón Tịnh Bình đã đi vào dân gian qua những câu hò như “ai về nhắn với Tịnh Bình, chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Báo SGGP ghi như sau.
Cụ bà Nguyễn Thị Lương, người làng nón Tịnh Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) biết chằm nón từ tuổi trăng tròn nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt, giọng tiếc nuối: thời Pháp thuộc, ruộng đất địa chủ lấy hết, dân trong làng sống được cũng nhờ nghề làm nón. Nón Tịnh Bình nổi tiếng đẹp, bền trong Nam, ngoài Bắc đều đến đây mua về bán, vậy mà những năm gần đây nghề này dường như muốn mất đi, chẳng còn ai mặn mà với nó. Cụ Lương kể rằng, nghề làm nón không biết có ở đây từ bao giờ, chỉ biết rằng khi cụ bắt đầu ý thức được thì đã thấy nghề nón ở cái làng này rồi, lớn lên được gia đình truyền nghề và cứ thế mà làm. Cũng có cái hay là già trẻ, lớn bé đều có thể tham gia được tất. Đàn ông thì đốn tre vót tuyến (vành), đàn bà, con nít thì chằm lá, phơi lá. Những năm “ăn nên làm ra” mỗi buổi sáng tại chợ Đình, một chợ trung tâm của xã, tấp nập kẻ mua người bán.
Chị Đào, một người có hơn ba mươi năm buôn bán nón tại chợ cho biết, cứ mỗi phiên chợ là hàng trăm người chen nhau mua bán, cả chợ chỉ thấy toàn nón và nón. Bạn hàng các nơi ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu... về đây thu gom. Mỗi buổi chợ cả ngàn chiếc nón được bán ra. Nguyên liệu chính để làm nên chiếc nón là lá nón. Tịnh Bình không có loại lá này nên phải đi mua khắp nơi ở các huyện miền núi trong tỉnh như Trà Bồng, Sơn Hà và cả ngoài tỉnh như Quảng Nam, nơi không có nguyên liệu chính để làm nón nhưng lại là nơi nổi tiếng làm nón đẹp và bền. Còn cũng lá đó nhưng làm ở nơi khác thì chất lượng giảm hẳn.

Về thu nhập từ nghề này, sau khi trừ chi phí tiền vật tư, nguyên liệu như lá, tre, cước,... tiền công chưa đến ba ngàn đồng mỗi ngày, ít thế nên chẳng còn ai mặn mà với nghề, nhưng một số bà con không bỏ được. Một viên chức xã Tịnh Bình cho biết, toàn xã hiện nay có 2,400 hộ dân nhưng chỉ còn khoảng 100 hộ còn gắn bó với nghề nhưng cũng chỉ làm cầm chừng, số còn lại bỏ hết, do đó nón làm ra giờ rất ít.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: Cụ Lương kể, ngày trước nhìn người con gái đi ngoài đường dù lạ hay quen là biết người ấy đã có chồng hay chưa. Vì nếu cô gái ấy có chồng rồi thường đội chiếc nón quai, còn chưa có chồng thì không. Người con gái ngày lên xe hoa về nhà trồng thường được mẹ hay chị trong nhà mua tặng chiếc nón lá, như một kỷ vật thân thiết của gia đình. Đàn bà, con gái ra đường đội nón được xem là người thùy mị, nết na, còn bây giờ con gái lên xe hoa về nhà chồng chẳng cần nón mũ gì ráo chỉ cần có cái dù cầm tay là được, ra đường chẳng biết cô ấy đã có chồng hay chưa, còn đàn bà con gái ra đường cũng rất ít đội nón lá chỉ toàn xài mũ vải. Nón lá chỉ còn dùng cho những bác nông dân ra đồng. Cụ Lương nói ngày trước trai chưa vợ, gái chưa chồng gặp nhau thường hò “Ai về nhắn với Tịnh Bình. Chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Nhưng câu hò ấy bây giờ hầu như không còn ý nghĩa gì nữa, nghề làm nón Tịnh Bình cũng đang bị mất dần theo thời gian.

Một thời chúng ta học về Thánh Gióng, lần từng trang sử quê nhà để nhìn vào một cõi tâm linh ông bà mình.
Không ai vui gì với chuyện trộm cắp. Nhưng bây giờ cứ như là rươi ấy.
Không phải chuyện ở quê mình, không phải chuyện ở Sài Gòn hay Hà Nội... nhưng là chuyện của Tây, nhưng lại là chuyện của Đạo Phật đối diện với thời đạị.
Làm thế nào để các trường đạị học Việt Nam lên đẳng cấp quốc tế? Câu hỏi này được nêu lên nhiều lần, nhiều nơi, và thậm chí còn có chỉ tiêu đào tạo 20.000 Tiến sĩ trong thời lượng đi tắt đón đầu kiểu nhảy vọt nào đó...
Đó là chuyện xảy ra rất hiếm hoi ở thời này, thời mà người người chạy đua theo nhu cầu thực dụng – khi người lớn rủ nhau kiếm tiền và trẻ em chạy theo các trò vui phố thị.
Lâu lắm mới nghe những lời như thế, những lơì nói rằng nếu không có dân, các chính phủ đều sẽ sụp đổ.
Ông bà mình ăn Tết ra sao? Tất nhiên là nhiều lễ hội, nhiều bánh, nhiều mứt, nhiều hoa quả, nhiều cúng lễ...
Đó là chuyện của quý thầy cô... Trong khi công nhân mất thưởng Tết là đình công liền, là công nhân ra cổng nhà máy ngồi một chỗ cho hiển lộ những nỗi đau khổ của “giai cấp công nhân”
Chúng ta đang một thời rất là khó khăn, vừa về mặt kinh tế, vừa về mặt xã hội... Trong khi 72 vị nhân sĩ trí thức đưa ra Kiến Nghị Sửa Đổi Hiến Pháp để xin thay đổi thể chế sang đa đảng, tôn trọng nhân quyền và ba quyền phân lập...
Có một hình ảnh nổi bật trên đường phố những ngày cận Tết: dân chúng đi lại liên tục. Ngoài những người về quê ăn Tết, đoàn tụ gia đình... còn là giới trẻ rủ nhau đi phượt khi được nghỉ nhiều ngày. Chữ “đi phượt” nghĩa là đi du lịch tự ý, mà không cần dựa vào văn phòng lữ hành nào.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.