Hôm nay,  

Chiếc Nón Của Tình Yêu

17/08/200200:00:00(Xem: 5910)
Bạn,
Quảng Ngãi có một làng nghề làm nón nổi tiếng từ trước 1945. Đó là làng nón Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh. Nón của làng này nổi tiếng đẹp, bền, và đã có một thời gian dài, thương khách khắp nơi đến đây mua về bán. Không chỉ nổi tiếng về thương hiệu, hình ảnh nón Tịnh Bình đã đi vào dân gian qua những câu hò như “ai về nhắn với Tịnh Bình, chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Báo SGGP ghi như sau.
Cụ bà Nguyễn Thị Lương, người làng nón Tịnh Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) biết chằm nón từ tuổi trăng tròn nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt, giọng tiếc nuối: thời Pháp thuộc, ruộng đất địa chủ lấy hết, dân trong làng sống được cũng nhờ nghề làm nón. Nón Tịnh Bình nổi tiếng đẹp, bền trong Nam, ngoài Bắc đều đến đây mua về bán, vậy mà những năm gần đây nghề này dường như muốn mất đi, chẳng còn ai mặn mà với nó. Cụ Lương kể rằng, nghề làm nón không biết có ở đây từ bao giờ, chỉ biết rằng khi cụ bắt đầu ý thức được thì đã thấy nghề nón ở cái làng này rồi, lớn lên được gia đình truyền nghề và cứ thế mà làm. Cũng có cái hay là già trẻ, lớn bé đều có thể tham gia được tất. Đàn ông thì đốn tre vót tuyến (vành), đàn bà, con nít thì chằm lá, phơi lá. Những năm “ăn nên làm ra” mỗi buổi sáng tại chợ Đình, một chợ trung tâm của xã, tấp nập kẻ mua người bán.
Chị Đào, một người có hơn ba mươi năm buôn bán nón tại chợ cho biết, cứ mỗi phiên chợ là hàng trăm người chen nhau mua bán, cả chợ chỉ thấy toàn nón và nón. Bạn hàng các nơi ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu... về đây thu gom. Mỗi buổi chợ cả ngàn chiếc nón được bán ra. Nguyên liệu chính để làm nên chiếc nón là lá nón. Tịnh Bình không có loại lá này nên phải đi mua khắp nơi ở các huyện miền núi trong tỉnh như Trà Bồng, Sơn Hà và cả ngoài tỉnh như Quảng Nam, nơi không có nguyên liệu chính để làm nón nhưng lại là nơi nổi tiếng làm nón đẹp và bền. Còn cũng lá đó nhưng làm ở nơi khác thì chất lượng giảm hẳn.

Về thu nhập từ nghề này, sau khi trừ chi phí tiền vật tư, nguyên liệu như lá, tre, cước,... tiền công chưa đến ba ngàn đồng mỗi ngày, ít thế nên chẳng còn ai mặn mà với nghề, nhưng một số bà con không bỏ được. Một viên chức xã Tịnh Bình cho biết, toàn xã hiện nay có 2,400 hộ dân nhưng chỉ còn khoảng 100 hộ còn gắn bó với nghề nhưng cũng chỉ làm cầm chừng, số còn lại bỏ hết, do đó nón làm ra giờ rất ít.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: Cụ Lương kể, ngày trước nhìn người con gái đi ngoài đường dù lạ hay quen là biết người ấy đã có chồng hay chưa. Vì nếu cô gái ấy có chồng rồi thường đội chiếc nón quai, còn chưa có chồng thì không. Người con gái ngày lên xe hoa về nhà trồng thường được mẹ hay chị trong nhà mua tặng chiếc nón lá, như một kỷ vật thân thiết của gia đình. Đàn bà, con gái ra đường đội nón được xem là người thùy mị, nết na, còn bây giờ con gái lên xe hoa về nhà chồng chẳng cần nón mũ gì ráo chỉ cần có cái dù cầm tay là được, ra đường chẳng biết cô ấy đã có chồng hay chưa, còn đàn bà con gái ra đường cũng rất ít đội nón lá chỉ toàn xài mũ vải. Nón lá chỉ còn dùng cho những bác nông dân ra đồng. Cụ Lương nói ngày trước trai chưa vợ, gái chưa chồng gặp nhau thường hò “Ai về nhắn với Tịnh Bình. Chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Nhưng câu hò ấy bây giờ hầu như không còn ý nghĩa gì nữa, nghề làm nón Tịnh Bình cũng đang bị mất dần theo thời gian.

Điều làm cho chúng ta phiền là khi những người quan tâm tới giáo dục và văn học thực ra lại gây rối thêm cho mọi chuyện, và như thế sẽ khó làm những gì có chiều sâu được.
Tình yêu tất nhiên là không tuổi rồi. Ai cũng biết như thế, vì đó là lời mọi người đều nói với nhau trên tất cả báo chí của mọi nền văn hóa.
Đôi khi có những chuyện bất ngờ xảy ra, các luật gia chính thống lại tranh cãi rằng có phải Việt Nam đã có luật để xử chưa, hay có phải rằng luật Việt Nam có thể né tránh được, hay có phải rằng VN có luật nhưng không hề áp dụng, hoặc là làm trái luật, hoặc là xử theo văn bản trái luật...
Đất nước ngày càng kinh dị. Không có vẻ gì như đời thường. Y hệt như trong phim ảnh căng thẳng, nơi xã hội đen khống chế cả quan quyền và trong đời dân thường.
Hễ đến cửa quan là mất tiền... Đó là lời bình phẩm của một viên quan, tuy chỉ là quan nhỏ thôi, nhưng hẳn là hiểu và chịu đựng cả một hệ thống như thế. Mà là chuyện ngay tại thủ đô cũng thế, tức là gần mặt trời, chứ không phải chuyện xa xôi gì.
Chúng ta đều từng tự hào là con rồng cháu tiên, và tin rằng được làm người Việt hẳn là cái gì ghê gớm lắm.
Có những hình ảnh chỉ mới nhìn đã không thể quên được. Đời người hẳn đã từng nhiều lần gặp các hình ảnh khó quên mang theo những tiếng cười vui, hay dòng nước mắt ngậm ngùi.
Có những hoàn cảnh thương tâm ở quê nhà, và rồi chúng ta chợt thấy lòng từ bi, muốn làm từ thiện. Nhưng không dễ đâu, cũng gian nan nhiều rào cản lắm.
Có những chuyện không bao giờ hiểu nổi trên đời này. Kể cả chuyện trong chùa.
Chuyện bi hài là trẻ em bây giờ hiểu biết về tình dục quá sớm. Và cái gọi là hiểu biết sớm này chỉ có nghĩa là hiểu biết không chính quy, không qua trường lớp, mà chỉ là kiểu “vừa học, vừa hành.” Nghĩa là, ăn cơm trước kẻng, nói theo ngôn ngữ thời đại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.