Hôm nay,  

Chiếc Nón Của Tình Yêu

17/08/200200:00:00(Xem: 5957)
Bạn,
Quảng Ngãi có một làng nghề làm nón nổi tiếng từ trước 1945. Đó là làng nón Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh. Nón của làng này nổi tiếng đẹp, bền, và đã có một thời gian dài, thương khách khắp nơi đến đây mua về bán. Không chỉ nổi tiếng về thương hiệu, hình ảnh nón Tịnh Bình đã đi vào dân gian qua những câu hò như “ai về nhắn với Tịnh Bình, chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Báo SGGP ghi như sau.
Cụ bà Nguyễn Thị Lương, người làng nón Tịnh Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) biết chằm nón từ tuổi trăng tròn nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt, giọng tiếc nuối: thời Pháp thuộc, ruộng đất địa chủ lấy hết, dân trong làng sống được cũng nhờ nghề làm nón. Nón Tịnh Bình nổi tiếng đẹp, bền trong Nam, ngoài Bắc đều đến đây mua về bán, vậy mà những năm gần đây nghề này dường như muốn mất đi, chẳng còn ai mặn mà với nó. Cụ Lương kể rằng, nghề làm nón không biết có ở đây từ bao giờ, chỉ biết rằng khi cụ bắt đầu ý thức được thì đã thấy nghề nón ở cái làng này rồi, lớn lên được gia đình truyền nghề và cứ thế mà làm. Cũng có cái hay là già trẻ, lớn bé đều có thể tham gia được tất. Đàn ông thì đốn tre vót tuyến (vành), đàn bà, con nít thì chằm lá, phơi lá. Những năm “ăn nên làm ra” mỗi buổi sáng tại chợ Đình, một chợ trung tâm của xã, tấp nập kẻ mua người bán.
Chị Đào, một người có hơn ba mươi năm buôn bán nón tại chợ cho biết, cứ mỗi phiên chợ là hàng trăm người chen nhau mua bán, cả chợ chỉ thấy toàn nón và nón. Bạn hàng các nơi ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu... về đây thu gom. Mỗi buổi chợ cả ngàn chiếc nón được bán ra. Nguyên liệu chính để làm nên chiếc nón là lá nón. Tịnh Bình không có loại lá này nên phải đi mua khắp nơi ở các huyện miền núi trong tỉnh như Trà Bồng, Sơn Hà và cả ngoài tỉnh như Quảng Nam, nơi không có nguyên liệu chính để làm nón nhưng lại là nơi nổi tiếng làm nón đẹp và bền. Còn cũng lá đó nhưng làm ở nơi khác thì chất lượng giảm hẳn.

Về thu nhập từ nghề này, sau khi trừ chi phí tiền vật tư, nguyên liệu như lá, tre, cước,... tiền công chưa đến ba ngàn đồng mỗi ngày, ít thế nên chẳng còn ai mặn mà với nghề, nhưng một số bà con không bỏ được. Một viên chức xã Tịnh Bình cho biết, toàn xã hiện nay có 2,400 hộ dân nhưng chỉ còn khoảng 100 hộ còn gắn bó với nghề nhưng cũng chỉ làm cầm chừng, số còn lại bỏ hết, do đó nón làm ra giờ rất ít.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: Cụ Lương kể, ngày trước nhìn người con gái đi ngoài đường dù lạ hay quen là biết người ấy đã có chồng hay chưa. Vì nếu cô gái ấy có chồng rồi thường đội chiếc nón quai, còn chưa có chồng thì không. Người con gái ngày lên xe hoa về nhà trồng thường được mẹ hay chị trong nhà mua tặng chiếc nón lá, như một kỷ vật thân thiết của gia đình. Đàn bà, con gái ra đường đội nón được xem là người thùy mị, nết na, còn bây giờ con gái lên xe hoa về nhà chồng chẳng cần nón mũ gì ráo chỉ cần có cái dù cầm tay là được, ra đường chẳng biết cô ấy đã có chồng hay chưa, còn đàn bà con gái ra đường cũng rất ít đội nón lá chỉ toàn xài mũ vải. Nón lá chỉ còn dùng cho những bác nông dân ra đồng. Cụ Lương nói ngày trước trai chưa vợ, gái chưa chồng gặp nhau thường hò “Ai về nhắn với Tịnh Bình. Chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Nhưng câu hò ấy bây giờ hầu như không còn ý nghĩa gì nữa, nghề làm nón Tịnh Bình cũng đang bị mất dần theo thời gian.

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.