Hôm nay,  

Chiếc Nón Của Tình Yêu

17/08/200200:00:00(Xem: 5935)
Bạn,
Quảng Ngãi có một làng nghề làm nón nổi tiếng từ trước 1945. Đó là làng nón Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh. Nón của làng này nổi tiếng đẹp, bền, và đã có một thời gian dài, thương khách khắp nơi đến đây mua về bán. Không chỉ nổi tiếng về thương hiệu, hình ảnh nón Tịnh Bình đã đi vào dân gian qua những câu hò như “ai về nhắn với Tịnh Bình, chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Báo SGGP ghi như sau.
Cụ bà Nguyễn Thị Lương, người làng nón Tịnh Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) biết chằm nón từ tuổi trăng tròn nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt, giọng tiếc nuối: thời Pháp thuộc, ruộng đất địa chủ lấy hết, dân trong làng sống được cũng nhờ nghề làm nón. Nón Tịnh Bình nổi tiếng đẹp, bền trong Nam, ngoài Bắc đều đến đây mua về bán, vậy mà những năm gần đây nghề này dường như muốn mất đi, chẳng còn ai mặn mà với nó. Cụ Lương kể rằng, nghề làm nón không biết có ở đây từ bao giờ, chỉ biết rằng khi cụ bắt đầu ý thức được thì đã thấy nghề nón ở cái làng này rồi, lớn lên được gia đình truyền nghề và cứ thế mà làm. Cũng có cái hay là già trẻ, lớn bé đều có thể tham gia được tất. Đàn ông thì đốn tre vót tuyến (vành), đàn bà, con nít thì chằm lá, phơi lá. Những năm “ăn nên làm ra” mỗi buổi sáng tại chợ Đình, một chợ trung tâm của xã, tấp nập kẻ mua người bán.
Chị Đào, một người có hơn ba mươi năm buôn bán nón tại chợ cho biết, cứ mỗi phiên chợ là hàng trăm người chen nhau mua bán, cả chợ chỉ thấy toàn nón và nón. Bạn hàng các nơi ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu... về đây thu gom. Mỗi buổi chợ cả ngàn chiếc nón được bán ra. Nguyên liệu chính để làm nên chiếc nón là lá nón. Tịnh Bình không có loại lá này nên phải đi mua khắp nơi ở các huyện miền núi trong tỉnh như Trà Bồng, Sơn Hà và cả ngoài tỉnh như Quảng Nam, nơi không có nguyên liệu chính để làm nón nhưng lại là nơi nổi tiếng làm nón đẹp và bền. Còn cũng lá đó nhưng làm ở nơi khác thì chất lượng giảm hẳn.

Về thu nhập từ nghề này, sau khi trừ chi phí tiền vật tư, nguyên liệu như lá, tre, cước,... tiền công chưa đến ba ngàn đồng mỗi ngày, ít thế nên chẳng còn ai mặn mà với nghề, nhưng một số bà con không bỏ được. Một viên chức xã Tịnh Bình cho biết, toàn xã hiện nay có 2,400 hộ dân nhưng chỉ còn khoảng 100 hộ còn gắn bó với nghề nhưng cũng chỉ làm cầm chừng, số còn lại bỏ hết, do đó nón làm ra giờ rất ít.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: Cụ Lương kể, ngày trước nhìn người con gái đi ngoài đường dù lạ hay quen là biết người ấy đã có chồng hay chưa. Vì nếu cô gái ấy có chồng rồi thường đội chiếc nón quai, còn chưa có chồng thì không. Người con gái ngày lên xe hoa về nhà trồng thường được mẹ hay chị trong nhà mua tặng chiếc nón lá, như một kỷ vật thân thiết của gia đình. Đàn bà, con gái ra đường đội nón được xem là người thùy mị, nết na, còn bây giờ con gái lên xe hoa về nhà chồng chẳng cần nón mũ gì ráo chỉ cần có cái dù cầm tay là được, ra đường chẳng biết cô ấy đã có chồng hay chưa, còn đàn bà con gái ra đường cũng rất ít đội nón lá chỉ toàn xài mũ vải. Nón lá chỉ còn dùng cho những bác nông dân ra đồng. Cụ Lương nói ngày trước trai chưa vợ, gái chưa chồng gặp nhau thường hò “Ai về nhắn với Tịnh Bình. Chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Nhưng câu hò ấy bây giờ hầu như không còn ý nghĩa gì nữa, nghề làm nón Tịnh Bình cũng đang bị mất dần theo thời gian.

Theo báo Người Lao Động, trên sân khấu cải lương miền Nam, nghề nhắc tuồng tưởng rằng chỉ là nghề nhất thời, không ngờ nghề này vẫn tồn tại và đang phát triển. Không chỉ tồn tại trên sân khấu cải lương như lâu nay mà còn phát triển sang cả trên phim trường điện ảnh truyền hình. Thâm nhập vào hậu trường sân khấu lúc các nghệ sĩ đang biểu diễn, nhất là diễn khai trương, mới thấy sự náo nhiệt của nghề nhắc tuồng. Báo NLĐ ghi nhận toàn cảnh về nghề này qua đoạn ký sự như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, trên thị trường điện ảnh VN, mỗi khi có bộ phim giải trí nào ra đời, là được quảng cáo đến "chóng mặt" nhưng nội dung là "một mớ hình ảnh ngôn từ ngô nghê". Do quảng cáo phim quá đà mà nhiều bộ phim có dấu hiệu thua lỗ thê thảm.
Theo báo quốc nội, nhiều năm nay, trên địa bàn thành phố Sài Gòn, không ít giáo viên từ nội thành ra ngoại thành nhận nhiệm sở chỉ được vài tuần là lẳng lặng bỏ về. Nguyên nhân của thực trạng này là giáo viên ở ngoại thành có nhiều khó khăn trong đời sống mà họ phải chịu đựng, nhất là trong bối cảnh giá xăng dầu và các chi phí khác đều tăng giá.
Tại VN, người dân kiếm sống nhờ vào nguồn lâm sản thường bảo "lên rừng như đi chợ" để chỉ cảnh đông vui tấp nập của những người thi nhau khai thác rừng. Ma thiêng nước độc, thú dữ và sự bảo vệ của con người cũng không ngăn được điều này. Theo chân một nhóm người đi tìm trầm, phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị đã ghi lại những câu chuyện về vùng rừng núi Vạn Ninh, Khánh Hoà qua đoạn ký sự như sau.
Năm học mới đã đến, các tỉnh miền Tây Nam phần lại bắt đầu đối mặt với bao nỗi lo toan, trong đó có nỗi lo về trường lớp xuống cấp, đe dọa đến tính mạng học sinh giáo viên và cả thiếu phòng học. Trong những phòng học tạm bợ, cả thầy và trò đều mong trường không sập. Báo Tiền Phong ghi nhận thực trạng này tại một số địa phương như sau.
Cách đây mười lăm năm, khách du lịch viếng thăm các cảnh quan, chùa chiền tại TP.SG dễ dàng bắt gặp rất nhiều hình ảnh của những người thợ chụp ảnh dạo. Cái nghề ghi lại những phút giây kỷ niệm của khách phương xa trong dịp viếng thăm các cảnh quan của thành phố SG càng trở nên thú vị hơn khi người bấm máy lại là phụ nữ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.