Hôm nay,  

Chiếc Nón Của Tình Yêu

17/08/200200:00:00(Xem: 5521)
Bạn,
Quảng Ngãi có một làng nghề làm nón nổi tiếng từ trước 1945. Đó là làng nón Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh. Nón của làng này nổi tiếng đẹp, bền, và đã có một thời gian dài, thương khách khắp nơi đến đây mua về bán. Không chỉ nổi tiếng về thương hiệu, hình ảnh nón Tịnh Bình đã đi vào dân gian qua những câu hò như “ai về nhắn với Tịnh Bình, chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Báo SGGP ghi như sau.
Cụ bà Nguyễn Thị Lương, người làng nón Tịnh Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) biết chằm nón từ tuổi trăng tròn nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt, giọng tiếc nuối: thời Pháp thuộc, ruộng đất địa chủ lấy hết, dân trong làng sống được cũng nhờ nghề làm nón. Nón Tịnh Bình nổi tiếng đẹp, bền trong Nam, ngoài Bắc đều đến đây mua về bán, vậy mà những năm gần đây nghề này dường như muốn mất đi, chẳng còn ai mặn mà với nó. Cụ Lương kể rằng, nghề làm nón không biết có ở đây từ bao giờ, chỉ biết rằng khi cụ bắt đầu ý thức được thì đã thấy nghề nón ở cái làng này rồi, lớn lên được gia đình truyền nghề và cứ thế mà làm. Cũng có cái hay là già trẻ, lớn bé đều có thể tham gia được tất. Đàn ông thì đốn tre vót tuyến (vành), đàn bà, con nít thì chằm lá, phơi lá. Những năm “ăn nên làm ra” mỗi buổi sáng tại chợ Đình, một chợ trung tâm của xã, tấp nập kẻ mua người bán.
Chị Đào, một người có hơn ba mươi năm buôn bán nón tại chợ cho biết, cứ mỗi phiên chợ là hàng trăm người chen nhau mua bán, cả chợ chỉ thấy toàn nón và nón. Bạn hàng các nơi ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu... về đây thu gom. Mỗi buổi chợ cả ngàn chiếc nón được bán ra. Nguyên liệu chính để làm nên chiếc nón là lá nón. Tịnh Bình không có loại lá này nên phải đi mua khắp nơi ở các huyện miền núi trong tỉnh như Trà Bồng, Sơn Hà và cả ngoài tỉnh như Quảng Nam, nơi không có nguyên liệu chính để làm nón nhưng lại là nơi nổi tiếng làm nón đẹp và bền. Còn cũng lá đó nhưng làm ở nơi khác thì chất lượng giảm hẳn.

Về thu nhập từ nghề này, sau khi trừ chi phí tiền vật tư, nguyên liệu như lá, tre, cước,... tiền công chưa đến ba ngàn đồng mỗi ngày, ít thế nên chẳng còn ai mặn mà với nghề, nhưng một số bà con không bỏ được. Một viên chức xã Tịnh Bình cho biết, toàn xã hiện nay có 2,400 hộ dân nhưng chỉ còn khoảng 100 hộ còn gắn bó với nghề nhưng cũng chỉ làm cầm chừng, số còn lại bỏ hết, do đó nón làm ra giờ rất ít.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: Cụ Lương kể, ngày trước nhìn người con gái đi ngoài đường dù lạ hay quen là biết người ấy đã có chồng hay chưa. Vì nếu cô gái ấy có chồng rồi thường đội chiếc nón quai, còn chưa có chồng thì không. Người con gái ngày lên xe hoa về nhà trồng thường được mẹ hay chị trong nhà mua tặng chiếc nón lá, như một kỷ vật thân thiết của gia đình. Đàn bà, con gái ra đường đội nón được xem là người thùy mị, nết na, còn bây giờ con gái lên xe hoa về nhà chồng chẳng cần nón mũ gì ráo chỉ cần có cái dù cầm tay là được, ra đường chẳng biết cô ấy đã có chồng hay chưa, còn đàn bà con gái ra đường cũng rất ít đội nón lá chỉ toàn xài mũ vải. Nón lá chỉ còn dùng cho những bác nông dân ra đồng. Cụ Lương nói ngày trước trai chưa vợ, gái chưa chồng gặp nhau thường hò “Ai về nhắn với Tịnh Bình. Chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Nhưng câu hò ấy bây giờ hầu như không còn ý nghĩa gì nữa, nghề làm nón Tịnh Bình cũng đang bị mất dần theo thời gian.

Từ lâu, tại VN, trong suy nghĩ của nhiều người, nghề cửu vạn (bốc vác, tải hàng) tại các bến xe, thương cảng, nhà kho, chỉ dành cho nam giới, nhưng nay ngày càng nhiều phụ nữ tham gia vào nghề này. Và trên đường mưu sinh, phụ nữ làm nghề này cũng còn nhiều điều thảm thương. Báo Bình Định viết về những phụ nữ kiếm sống bằng nghề bốc vác hàng tại thành phố Qui Nhơn như sau.
Tại 1 trường trung học phổ thông (lớp 10-12) ở thành phố SG, mỗi khi tiếng trống tan học vang lên, cũng là lúc hàng loạt các chuông điện thoại di động (ĐTDĐ) của nhóm học sinh nhà giàu í ới gọi nhau với đủ các loại âm thanh. Phần lớn đó là các tin nhắn, các cuộc gọi hò hẹn. Báo Ngôi Sao gọi đây là trò chơi dế và ghi nhận như sau.
Chuyện trong lá thư này là chuyện những người dân ở vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang, kiếm sống bằnng nghề leo hái cây thốt nốt ở độ cao 10 đến 15 mét. Đây là nghề hết sức nguy hiểm. Người làm nghề leo thốt nốt không có bất kỳ dụng cụ bảo hộ nào, vậy nê n nguy cơ "sinh nghề tử nghiệp" rất cao... Báo Pháp Luật TPSG viết như sau.
Theo báo quốc nội, tại vùng biên giới VN-Trung Quốc, khu chợ Đông Hưng thuộc địa phận TQ có một "trung tâm thương mại" chuyên phục vụ cho dân chơi, nhân viên là các cô gái Việt Nam với những trang phục rất mát mẻ. Trong tòa nhà trước đây là một trung tâm thương mại, các "giai nhân" đứng, ngồi lố nhố trước cửa từng ki-ốt. Cô nào ăn mặc cũng hết sức "mát mẻ"
Hơn 2 tháng qua, khu vực Bắc phần hầu như không có mưa. Mưa ít nên lượng nước các dòng sông suối hiện chỉ còn bằng 45% so với trung bình nhiều năm. Hơn 1 triệu ha ruộng ở đồng bằng Bắc phần đang cạn khô nằm phơi mình chờ mưa. SGGP ghi nhận về thực trạng hán hạn tạo miền Bắc VN như sau. Dọc quốc lộ 1 ven theo 3 tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng là Hà Nội, Hà Tây
"Hung thần trên biển" là biệt danh mà ngư dân Phan Thiết, Hàm Tân và Tuy Phong đặt cho thuyền làm nghề giã cào của các tỉnh khác đến Bình Thuận khai thác. Với công suất từ 400-500CV, các "hung thần" này không chỉ khai thác hải sản không đúng địa phận mà còn làm thiệt hại tài sản cho các tàu thuyền nhỏ của ngư dân địa phương, ảnh hưởng đến sản lượng đánh bắt hải sản.
Tại miền Bắc VN, mỗi năm sông Hồng có một mùa nước cạn. Nhưng năm nay, nhiều đoạn trên sông Hồng cạn đến trơ đáy, dân địa phương có thể lội qua được. Hiện trạng này đã gây khốn khổ cho những gia đình nghèo các xóm chài ven sông Hồng, kiếm sống bằng công việc đánh bắt cá trên sông. Những ngày hạ tuần tháng 12 này, nhiều dân chài chỉ còn biết ngồi chờ con nước lên.
Trên địa bàn TPSG, dòng kênh Nhiêu Lộc được mở chạy dài qua nhiều quận nội thành, và cũng từ khi "con kênh đen đen" này hình thành thì hàng loạt quán nhậu cũng theo đó mà xuất hiện, chủ yếu là về đêm. Từ khu vực cầu Thị Nghè (dọc đường Hoàng Sa, quận 1) chạy dọc theo bờ kè đến khu vực chung cư Miếu Nổi có quá nhiều quán nhậu đêm. Báo Ngôi Sao viết như sau.
Tại VN, các phòng trà bây giờ như nấm mọc sau mưa. Đó là mảnh đất để các ca sĩ mới vào nghề có cơ hội thể hiện giọng hát của mình. Tuy nhiên không ít phòng trà đã trở thành điểm hẹn của các cuộc tình chớp nhoáng giữa ca sĩ và những kẻ lắm tiền.Những sự việc xảy ra liên tiếp gần đây liên quan đến các ca sĩ có danh cũng như vô danh khiến nhiều người thất vọng.
Hàng năm cứ đến mùa Noel, nhiều sinh viên nghèo đã kiếm tiền bằng những công việc làm thêm như làm ông già Noel, gửi qua, trang trí... Vốn lận lưng chỉ khoảng vài trăm nghìn đồng, vừa mua quà vừa chi trả khoản mướn quần áo ông già Noel và chi phí đi lại. Ai kêu gì thì đặt ở cửa hàng rồi đi giao theo yêu cầu ngày giờ, địa điểm của khách hàng, món quà giá trị bao nhiêu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.