Hôm nay,  

Nghề Làm Nón Huế

03/05/200600:00:00(Xem: 4105)

Theo báo Nét Cố Đô, làm nón là nghề thủ công truyền thống của Huế. Hiện nay, ở thành phố Huế có 900 gia đình làm nghề chằm nón, thu hút gần 2 ngàn lao động (chưa kể hàng trăm lao động khai thác lá nón, làm vành nón...). Gần 50% số gia đình chằm nón tập trung ở phường Phước Vĩnh, Phú Hiệp, Xuân Phú... Chợ Đông Ba là đầu mối chính tiêu thụ nón, trung bình một năm hơn 1 triệu nón Huế được phân phối đi các tỉnh trên toàn Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nam. Báo Nét Cô Đô ghi nhận về nghề làm nón ở Huế qua đoạn ký sự như sau. <"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Nghề chằm nón ở Huế dễ tồn tại vì vốn đầu tư không cần nhiều (chỉ khoảng 300 ngàn - 500 ngàn đồng, khoảng 30 Mỹ kim), nguyên liệu sẵn có, trong gia đình lớn nhỏ ai cũng có thể làm được. Để làm ra chiếc nón thành phẩm cần phải qua nhiều quy trình lao động và các giai đoạn thủ công. Tre đem về chuốt thật mỏng, đẹp, rồi uốn thành vành và khuy nón. Lá nón đem về được sấy hoặc phơi khô, kỹ thuật phơi sấy đòi hỏi lá nón dù khô vẫn giữ được mầu trắng xanh. Trước khi đặt lên khuôn chằm, lá nón phải được là thật thẳng bằng bàn là than. Sau đó đến bước dựng khuôn, xếp vành, lợp lá và chằm nón bằng sợi gấc; khâu cuối cùng là phết dầu bóng lên nón. Một lao động giỏi có thể chằm được 2 - 3 nón/ngày, trong khi một lao động trung bình chỉ làm được 1 nón/ngày. Cứ khoảng 2 ngày là mỗi gia đình đã có một chồng nón (khoảng chục chiếc) đem ra chợ Đông Ba.

 

Nón Huế rất được ưa chuộng. Bất cứ ai đến Huế cũng không quên mua nón về làm quà. Giá nón bán ra hiện nay, nếu bán sỉ từ 7 ngàn - 8 ngàn đồng/chiếc, khách mua lẻ nội địa khoảng 10 ngàn đồng/chiếc, du khách nước ngoài 1 Mỹ kim/chiếc. Trừ các chi phí nguyên vật liệu, thợ chằm nón thu về 3 ngàn đồng - 4 ngàn đồng tiền lãi cho mỗi chiếc nón...Những nhà có truyền thống chằm nón thu nhập khá như: gia đình Ngô Tá Phúc tổ 10, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón, thu nhập 30 triệu đồng/năm (khoảng 1,800 Mỹ kim/năm); bà Trần Thị Vĩnh, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón thu nhập 21 triệu đồng/năm. Đặc biệt, hộ bà Nguyễn Thị Mẫn, xã Hương Sơ, có 5 lao động chuyên sấy lá nón thu 63 triệu đồng/năm. Gia đình bà Nguyễn Thị Hà ở 284 Chi Lăng, Phú Hiệp có 12 lao động làm vành nón thu 90 triệu/năm (5,400 Mỹ kim/1 năm)...

 

Báo Nét Cô Đô viết tiếp: Không chỉ dừng lại ở thị trường tiêu dùng nội địa, những bài thơ trữ tình, những danh lam thắng cảnh ẩn hiện trong chiếc nón đã khiến cho nón bài thơ trở thành một sản phẩm văn hóa nổi tiếng được du khách nước ngoài mến mộ.

Hồi nhỏ, mình thường được nghe hát ru,
Có thực có những ngôi nhà ma ám? Hình như ai cũng từng nghe những chuyện dân gian về những ngôi nhà ma ám,
Buồn kể gì, khi sống trong một thời mà sinh kế hỗn mang. Không chỉ muốn nói là chuyên kinh tế biến đổi,
Nói ngắn gọn, “đạo thơ” là “trộm thơ” – là lấy thơ người khác, chép lại, đề tên mình là tác giả.
Lễ chùa là một đại cơ duyên, không phải ai cũng có cơ hội đi lễ chùa.
Thời xa xưa, trong thế kỷ trước, có một ca khúc ngợi ca đời sống nông dân tuyệt vời. Ca khúc này tên là “Em Bé Quê” của Phạm Duy, hình ảnh thơ mộng, khởi đầu với câu như:
Trước giờ mình vẫn dè dặt khi nói về chuyện lớn, chuyện đất nước... vì thiệt sự đời mình nhiều thập niên chỉ quanh quẩn trong nhà, quanh sân trường, và rồi mấy khu phố Sài Gòn...
Câu chuyện còn tiền, còn đủ thứ là chuyện muôn đời. Hỏi bất kỳ cậu trẻ nào, cô gái nhỏ nào, cho tới các ông già, bà cụ... thì ai cũng biết đồng tiền có thể mua được gần như tất cả.
Cuộc đời có rất nhiều chuyện không thể hình dung được vẫn xảy ra thường xuyên. Bởi vì bản chất cuộc đời đầy những đau đớn.
Đúng vậy, học vẹt đã giúp thi đậu vô số thí sinh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.