Hôm nay,  

Nghề Làm Nón Huế

03/05/200600:00:00(Xem: 4147)

Theo báo Nét Cố Đô, làm nón là nghề thủ công truyền thống của Huế. Hiện nay, ở thành phố Huế có 900 gia đình làm nghề chằm nón, thu hút gần 2 ngàn lao động (chưa kể hàng trăm lao động khai thác lá nón, làm vành nón...). Gần 50% số gia đình chằm nón tập trung ở phường Phước Vĩnh, Phú Hiệp, Xuân Phú... Chợ Đông Ba là đầu mối chính tiêu thụ nón, trung bình một năm hơn 1 triệu nón Huế được phân phối đi các tỉnh trên toàn Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nam. Báo Nét Cô Đô ghi nhận về nghề làm nón ở Huế qua đoạn ký sự như sau. <"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Nghề chằm nón ở Huế dễ tồn tại vì vốn đầu tư không cần nhiều (chỉ khoảng 300 ngàn - 500 ngàn đồng, khoảng 30 Mỹ kim), nguyên liệu sẵn có, trong gia đình lớn nhỏ ai cũng có thể làm được. Để làm ra chiếc nón thành phẩm cần phải qua nhiều quy trình lao động và các giai đoạn thủ công. Tre đem về chuốt thật mỏng, đẹp, rồi uốn thành vành và khuy nón. Lá nón đem về được sấy hoặc phơi khô, kỹ thuật phơi sấy đòi hỏi lá nón dù khô vẫn giữ được mầu trắng xanh. Trước khi đặt lên khuôn chằm, lá nón phải được là thật thẳng bằng bàn là than. Sau đó đến bước dựng khuôn, xếp vành, lợp lá và chằm nón bằng sợi gấc; khâu cuối cùng là phết dầu bóng lên nón. Một lao động giỏi có thể chằm được 2 - 3 nón/ngày, trong khi một lao động trung bình chỉ làm được 1 nón/ngày. Cứ khoảng 2 ngày là mỗi gia đình đã có một chồng nón (khoảng chục chiếc) đem ra chợ Đông Ba.

 

Nón Huế rất được ưa chuộng. Bất cứ ai đến Huế cũng không quên mua nón về làm quà. Giá nón bán ra hiện nay, nếu bán sỉ từ 7 ngàn - 8 ngàn đồng/chiếc, khách mua lẻ nội địa khoảng 10 ngàn đồng/chiếc, du khách nước ngoài 1 Mỹ kim/chiếc. Trừ các chi phí nguyên vật liệu, thợ chằm nón thu về 3 ngàn đồng - 4 ngàn đồng tiền lãi cho mỗi chiếc nón...Những nhà có truyền thống chằm nón thu nhập khá như: gia đình Ngô Tá Phúc tổ 10, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón, thu nhập 30 triệu đồng/năm (khoảng 1,800 Mỹ kim/năm); bà Trần Thị Vĩnh, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón thu nhập 21 triệu đồng/năm. Đặc biệt, hộ bà Nguyễn Thị Mẫn, xã Hương Sơ, có 5 lao động chuyên sấy lá nón thu 63 triệu đồng/năm. Gia đình bà Nguyễn Thị Hà ở 284 Chi Lăng, Phú Hiệp có 12 lao động làm vành nón thu 90 triệu/năm (5,400 Mỹ kim/1 năm)...

 

Báo Nét Cô Đô viết tiếp: Không chỉ dừng lại ở thị trường tiêu dùng nội địa, những bài thơ trữ tình, những danh lam thắng cảnh ẩn hiện trong chiếc nón đã khiến cho nón bài thơ trở thành một sản phẩm văn hóa nổi tiếng được du khách nước ngoài mến mộ.

Bạn có bao giờ nghĩ rằng chúng ta là những người ưa nhậu? Vậy mà dưới mắt nhiều người ngoại quốc, hình ảnh đàn ông Việt Nam ưa nhậu lại là ấn tượng khó quên của họ.
Đó là những chuyện diễn ra hàng ngày, quanh đây: những bữa ăn ngập đầy hóa chất. Hóa chất thực ra là một phát minh tuyệt vời của nhân loại, vì nếu không có ngành hóa học phát triển như hiện nay, khoa học không thể đem tới cho nhân loại quá nhiều tiện như như hôm nay.
Một thời, chúng ta say mê đọc truyện Tàu. Những tác phẩm kinh điển như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Tây Du Ký, vân vân... liên tục như được đọc từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Những trang giấy xưa cổ, ấp ủ những thông tin quý giá về những thời xa vắng của quê nhà, đang biến dần đi.
Học sinh là người của tương lai. Đất nước sau này hưng vong đều nhờ vào các học trò đang ngồi miệt mài học ở các trường lớp. Và không giúp các em, có nghĩa là tự mình cắt đứt những mầm hưng thịnh tương lai của đất nước.
Có một kiểu nói thường nghe quen ở Sài Gòn, khi bất chợt thấy xảy ra những điều trái mắt trái tai: dzô dziên. Nghĩa là “vô duyên.”
Một thời chúng ta ngồi miệt mài đọc sách ở Thư Viện Chùa Xá Lợi, rồi ở Thư Viện Lincoln, rồi ở Thư Viện Quốc Gia... đó là chưa kể những ngày đứng bên các kệ sách Khai Trí để đọc chùa, đọc cọp. Những kỷ niệm về thời say mê sách vở như còn in đậm trong trí nhớ, bất kể những chòm tóc bạc đã phất phơ trước mắt.
Nhiều người nói rằng dân Việt Nam không có văn hóa chen lấn. Nghĩa là, không chịu đứng vào hàng, cứ chen lên trước, cứ chen vô giữa, cứ lấn cho người ta dạt ra sau để mình đứng trước. Có đúng như thế không, và tại sao?
Tại sao những chuyên gia ưu tú, những sinh viên xuất sắc lại muốn rời bỏ Việt Nam? Có phải vì quê nhà đã trở thành nơi chỉ giành những vị trí tốt cho con cháu cán bộ, và để mặc cho các sinh viên tốt nghiệp đaị học ra đường phố ngồi bán trà đá, đạp xe bán dạo cà phê?
Xiếc là một nghề khó theo đuổi. Không phải ai tập cũng được. Do vậy, khi một gánh xiếc lưu diễn vào một thành phố, ai cũng háo hức muốn xem những trò biểu diễn lạ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.