Hôm nay,  

Nghề Làm Nón Huế

03/05/200600:00:00(Xem: 4163)

Theo báo Nét Cố Đô, làm nón là nghề thủ công truyền thống của Huế. Hiện nay, ở thành phố Huế có 900 gia đình làm nghề chằm nón, thu hút gần 2 ngàn lao động (chưa kể hàng trăm lao động khai thác lá nón, làm vành nón...). Gần 50% số gia đình chằm nón tập trung ở phường Phước Vĩnh, Phú Hiệp, Xuân Phú... Chợ Đông Ba là đầu mối chính tiêu thụ nón, trung bình một năm hơn 1 triệu nón Huế được phân phối đi các tỉnh trên toàn Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nam. Báo Nét Cô Đô ghi nhận về nghề làm nón ở Huế qua đoạn ký sự như sau. <"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Nghề chằm nón ở Huế dễ tồn tại vì vốn đầu tư không cần nhiều (chỉ khoảng 300 ngàn - 500 ngàn đồng, khoảng 30 Mỹ kim), nguyên liệu sẵn có, trong gia đình lớn nhỏ ai cũng có thể làm được. Để làm ra chiếc nón thành phẩm cần phải qua nhiều quy trình lao động và các giai đoạn thủ công. Tre đem về chuốt thật mỏng, đẹp, rồi uốn thành vành và khuy nón. Lá nón đem về được sấy hoặc phơi khô, kỹ thuật phơi sấy đòi hỏi lá nón dù khô vẫn giữ được mầu trắng xanh. Trước khi đặt lên khuôn chằm, lá nón phải được là thật thẳng bằng bàn là than. Sau đó đến bước dựng khuôn, xếp vành, lợp lá và chằm nón bằng sợi gấc; khâu cuối cùng là phết dầu bóng lên nón. Một lao động giỏi có thể chằm được 2 - 3 nón/ngày, trong khi một lao động trung bình chỉ làm được 1 nón/ngày. Cứ khoảng 2 ngày là mỗi gia đình đã có một chồng nón (khoảng chục chiếc) đem ra chợ Đông Ba.

 

Nón Huế rất được ưa chuộng. Bất cứ ai đến Huế cũng không quên mua nón về làm quà. Giá nón bán ra hiện nay, nếu bán sỉ từ 7 ngàn - 8 ngàn đồng/chiếc, khách mua lẻ nội địa khoảng 10 ngàn đồng/chiếc, du khách nước ngoài 1 Mỹ kim/chiếc. Trừ các chi phí nguyên vật liệu, thợ chằm nón thu về 3 ngàn đồng - 4 ngàn đồng tiền lãi cho mỗi chiếc nón...Những nhà có truyền thống chằm nón thu nhập khá như: gia đình Ngô Tá Phúc tổ 10, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón, thu nhập 30 triệu đồng/năm (khoảng 1,800 Mỹ kim/năm); bà Trần Thị Vĩnh, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón thu nhập 21 triệu đồng/năm. Đặc biệt, hộ bà Nguyễn Thị Mẫn, xã Hương Sơ, có 5 lao động chuyên sấy lá nón thu 63 triệu đồng/năm. Gia đình bà Nguyễn Thị Hà ở 284 Chi Lăng, Phú Hiệp có 12 lao động làm vành nón thu 90 triệu/năm (5,400 Mỹ kim/1 năm)...

 

Báo Nét Cô Đô viết tiếp: Không chỉ dừng lại ở thị trường tiêu dùng nội địa, những bài thơ trữ tình, những danh lam thắng cảnh ẩn hiện trong chiếc nón đã khiến cho nón bài thơ trở thành một sản phẩm văn hóa nổi tiếng được du khách nước ngoài mến mộ.

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.