Hôm nay,  

Nghề Làm Nón Huế

03/05/200600:00:00(Xem: 3917)

Theo báo Nét Cố Đô, làm nón là nghề thủ công truyền thống của Huế. Hiện nay, ở thành phố Huế có 900 gia đình làm nghề chằm nón, thu hút gần 2 ngàn lao động (chưa kể hàng trăm lao động khai thác lá nón, làm vành nón...). Gần 50% số gia đình chằm nón tập trung ở phường Phước Vĩnh, Phú Hiệp, Xuân Phú... Chợ Đông Ba là đầu mối chính tiêu thụ nón, trung bình một năm hơn 1 triệu nón Huế được phân phối đi các tỉnh trên toàn Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nam. Báo Nét Cô Đô ghi nhận về nghề làm nón ở Huế qua đoạn ký sự như sau. <"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Nghề chằm nón ở Huế dễ tồn tại vì vốn đầu tư không cần nhiều (chỉ khoảng 300 ngàn - 500 ngàn đồng, khoảng 30 Mỹ kim), nguyên liệu sẵn có, trong gia đình lớn nhỏ ai cũng có thể làm được. Để làm ra chiếc nón thành phẩm cần phải qua nhiều quy trình lao động và các giai đoạn thủ công. Tre đem về chuốt thật mỏng, đẹp, rồi uốn thành vành và khuy nón. Lá nón đem về được sấy hoặc phơi khô, kỹ thuật phơi sấy đòi hỏi lá nón dù khô vẫn giữ được mầu trắng xanh. Trước khi đặt lên khuôn chằm, lá nón phải được là thật thẳng bằng bàn là than. Sau đó đến bước dựng khuôn, xếp vành, lợp lá và chằm nón bằng sợi gấc; khâu cuối cùng là phết dầu bóng lên nón. Một lao động giỏi có thể chằm được 2 - 3 nón/ngày, trong khi một lao động trung bình chỉ làm được 1 nón/ngày. Cứ khoảng 2 ngày là mỗi gia đình đã có một chồng nón (khoảng chục chiếc) đem ra chợ Đông Ba.

 

Nón Huế rất được ưa chuộng. Bất cứ ai đến Huế cũng không quên mua nón về làm quà. Giá nón bán ra hiện nay, nếu bán sỉ từ 7 ngàn - 8 ngàn đồng/chiếc, khách mua lẻ nội địa khoảng 10 ngàn đồng/chiếc, du khách nước ngoài 1 Mỹ kim/chiếc. Trừ các chi phí nguyên vật liệu, thợ chằm nón thu về 3 ngàn đồng - 4 ngàn đồng tiền lãi cho mỗi chiếc nón...Những nhà có truyền thống chằm nón thu nhập khá như: gia đình Ngô Tá Phúc tổ 10, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón, thu nhập 30 triệu đồng/năm (khoảng 1,800 Mỹ kim/năm); bà Trần Thị Vĩnh, phường Phước Vĩnh có 3 lao động chằm nón thu nhập 21 triệu đồng/năm. Đặc biệt, hộ bà Nguyễn Thị Mẫn, xã Hương Sơ, có 5 lao động chuyên sấy lá nón thu 63 triệu đồng/năm. Gia đình bà Nguyễn Thị Hà ở 284 Chi Lăng, Phú Hiệp có 12 lao động làm vành nón thu 90 triệu/năm (5,400 Mỹ kim/1 năm)...

 

Báo Nét Cô Đô viết tiếp: Không chỉ dừng lại ở thị trường tiêu dùng nội địa, những bài thơ trữ tình, những danh lam thắng cảnh ẩn hiện trong chiếc nón đã khiến cho nón bài thơ trở thành một sản phẩm văn hóa nổi tiếng được du khách nước ngoài mến mộ.

Theo báo Thanh Niên, tại thành phố Đà Lạt, chuyện cá độ túc cầu đã trở thành chuyện hàng ngày, và trò cờ bạc này diễn ra mọi lúc, mọi nơi, thu hút đông đảo thanh niên, sinh viên. Phóng viên báo TN viết như sau.
Câu chuyện kể với bạn trong lá thư này xảy ra tại 1 xã nghèo ở tỉnh Hà Nam. Đó là xã Tiên Phong thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Năm 2003, tỷ lệ gia đình nghèo chiếm 21% dân số. Người dân nơi đây từ ngàn xưa sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp và nghề trồng dâu nuôi tằm. Vài ba năm trở lại đây, lợi dụng sông Châu Giang rộng lớn bao bọc
Tại miền Tây,sau dịch cúm gà, nhiều gia đình nông dân gần như sạt nghiệp. Vì vậy, ai cũng trông chờ chính quyền CSVN địa phương công bố hết dịch để gầy dựng lại đàn gà càng sớm càng tốt. Nhưng rồi nhiều người đã ngao ngán vì đụng... bức tường thủ tục quá rắc rối, nhiêu khê với những kiểu hành dân đến bần cùng của các cơ quan chức năng.
Tại VN, một dạo dư luận rộ lên chuyện trẻ con hát nhạc người lớn hay nói nôm na là các "thần đồng" ca nhạc hát "tình ca". Hiện tượng trên trở nên bộc phát khắp nơi từ khi các CD, VCD bán nhan nhản ở mọi hang cùng ngõ hẻm với những "danh ca" Bé Châu, Duy Phước... Độc chiêu nhất là hàng loạt "lò" luyện để trở thành "thần đồng" ca nhạc ra đời.
Trong và ngoài hàng rào trên dưới 90 khu công nghiệp và khu chế xuất cả VN, công nhân vẫn lầm lũi làm việc, vẫn tích cóp từng đồng bạc lẻ mong đổi đời. Lao động cực nhọc suốt ngày ở nhà máy, họ còn chịu nhiềukhốn khổ về chuyện ăn ở như ghi nhận của báo SGGP qua đoạn ký sự như sau.
Chuyện kể với bạn trong lá thư này là chuyện của những người dân nghèo ở Cần Giờ, huyện ngoại thành của Thành phố Sài Gòn. Cuộc đời họ, quanh năm suốt tháng chỉ biết có nghêu và biển. Bất kể là trời mưa hay nắng, lúc đêm hôm hoặc giữa trưa nắng gắt, chỉ cần đợi thủy triều rút, biển cạn là họ đến với biển, đến với nghêu. Báo SGGP viết về những người sống theo con nước qua đoạn ký sự như sau.
Cắt tóc, gội đầu đã thành nghề mưu sinh của nhiều cô, đặc biệt với những cô gái trẻ ở chốn quê. Đa số họ là những cô gái, thi đại học không đỗ hoặc chỉ học đến hết cấp tiểu học, trung học cơ sở (lớp 9) rồi bỏ dở giữa chừng. Không nghề nghiệp, nghe theo lời bạn bè, họ tìm đến những tiệm tóc ở thành phố để học nghề làm đầu với chi phí tối thiểu là 2 triệu đồng/khoá học.
Quán cà phê được nhắc đến trong lá thư này là 1 quán rất đặc biệt. Chủ nhân là 1 cô gái Nhật hoạt động thiện nguyện. Nhân viên phục vụ ở đây đều là những người chậm phát triển, khuyết tật. Họ khoác áo trắng thêu hoa anh đào và đón khách trong tiếng chuông rung reng... Báo Tuổi Trẻ viết về quán này như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, cách nay khoảng 15 năm, các chương trình ca nhạc, từ sân khấu tụ điểm, nhà văn hóa đến các đoàn hát, truyền thanh, truyền hình... bỗng nhiên xôm tụ với sự xuất hiện nhiều sáng tác mới của một dàn các nhạc sĩ mới, kéo theo sự xuất hiện của một dàn nghệ sĩ mới, dần dần, trên thị trường âm nhạc có quá nhiều ca khúc tình yêu mà báo quốc nội cho rằng đó là nhạc não tình, nội dung luôn rên rỉ.
Xăm mình đang trở thành "mốt" của nhiều giới trẻ trong nước. Người đi xăm có cả nam, cả nữ. Chỉ cần vài trăm ngàn, những con rồng, sư tử, bông hoa hồng... sẽ qua bàn tay thợ xăm "ngự" lên ngực, lên vai khách. Báo Kinh Tế-Đô Thị viết về các lò xăm mình tại Hà Nội qua đoạn ký sự như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.