Hôm nay,  

Đất Ngàn Cau Cứu Đói Khổ

01/12/200200:00:00(Xem: 5836)
Bạn,
Vùng núi Quảng Ngãi có huyện Sơn Tây nơi dân địa phương gọi là đất ngàn cau, vì cau mọc tầng tầng, lớp lớp trong bản làng, trên đồi nương và cả những khu rừng tiếp giáp với rừng già. Cũng nhờ cây cau mà dân huyện miền núi Sơn Tây thoát khỏi nạn đói trong những năm tháng mất mùa. Trong một chuyến đi về vùng núi này, phóng viên SGGP viết về vùng đất ngàn cau này qua đoạn ghi chép như sau.
Khởi hành từ thị xã Quảng Ngãi xe lên đất ngàn cau phải vượt trên 100 cây số đường dốc đèo. Hết đèo Cà Đáo, đến dốc Hoắc Liên, dốc Ông Phó, dốc Tà Mực và rất nhiều dốc núi vô danh với những cua tay áo đầy nguy hiểm. Đến dốc Hoắc Liên ranh giới giữa hai huyện miền núi Sơn Hà- Sơn Tây, bác tài cho xe dừng lại để khách hàng giải mỏi. Tôi (phóng viên) nhìn về phía cầu treo thôn Tà Dô, xã Sơn Tân đã thấy các bản làng ở dưới chân núi cau mọc thành rừng phủ xanh thôn bản. Rồi từ đó ngược đường lên huyện lỵ Sơn Tây đi qua Sơn Mùa, Sơn Bua tiếp giáp với Trà My (Quảng Nam) hay vào Ra Manh, phần đất cuối cùng của xã Sơn Dung (giáp huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) đâu đâu cũng thấy cau mọc quanh bản làng, trên đồi nương và cả những vạt rừng tiếp giáp với rừng nguyên sinh. Theo phòng nông lâm nghiệp huyện Sơn Tây thì diện tích trồng cau khá lớn, chiếm trên 1 ngàn 200 ha.

Đang mùa thu hoạch cau nên bản làng vùng cao này như thức giấc sau cơn ngủ vùi. Đi dọc con đường vào bản, tôi đã thấy những đứa trẻ chừng 15, 16 tuổi, da đen nhẻm với dây rừng quấn tròn trên vai đi hái cau thuê. Còn những tư thương thì lùng sâu vào các thôn bản để mặc cả, mua bán. Theo chân họ là những quầy hàng di động của những người đi buôn, gánh trên vai với đủ mớ đời, từ cây kim, sợi chỉ cho đến muối ăn và cả đồ chơi con nít. Tư thương đi tìm hộ bán cau để gom hàng, còn họ đi tìm những nhà vừa mới bán cau túi rủng rỉnh tiền để chào mời, mua bán. Tôi tạt thôn Huy Em, xã Sơn Mùa. Anh Đinh Văn Chênh kể: Từ hồi còn nhỏ đã thấy cây cau trồng quanh bản rồi. Cây cau dễ trồng lắm. Người siêng thì lấy quả già đem phủ cát dưới ảng nước để trái nảy mầm đến mùa mưa đem trồng. Người biếng thì cứ để trái cau chín vàng rụng xuống đất nảy mầm xanh mới bứng lên trồng.
Hết thế hệ này đến thế hệ khác đều trồng cau nên bây giờ cau mọc thành rừng. Người trồng nhiều từ 4 ngàn-5 ngàn cây, người trồng ít cũng vài trăm cây. Mùa cau trổ bông hương thơm thoang thoảng rồi kết trái, chín vàng trên sườn đồi. Đồng bào thiểu số hái trái đem về chẻ đôi lấy hạt sấy hoặc phơi để ăn trầu và phần lớn là chuyển về xuôi. Mười năm trở lại đây khi hạt cau trở thành món hàng xuất sang thị trường Trung Quốc, ở Quảng Ngãi nhiều lò sấy được dựng lên thì trên đất này cây cau càng có giá.
Bạn,
Cũng theo SGG, cây cau đối với dân sắc tộc Ca Dong cũng như cây quế của dân sắc tộc Cor ở huyện Trà Bồng, đã trở thành loại cứu khổ của dân nghèo miền núi. Trái cau là món hàng duy nhất của vùng đất này đến với thị trường nước ngoài. Nhờ có cây cau nên nhiều gia đình ở Sơn Tây thoát khỏi đói nghèo.

Bạn có bao giờ nghĩ rằng chúng ta là những người ưa nhậu? Vậy mà dưới mắt nhiều người ngoại quốc, hình ảnh đàn ông Việt Nam ưa nhậu lại là ấn tượng khó quên của họ.
Đó là những chuyện diễn ra hàng ngày, quanh đây: những bữa ăn ngập đầy hóa chất. Hóa chất thực ra là một phát minh tuyệt vời của nhân loại, vì nếu không có ngành hóa học phát triển như hiện nay, khoa học không thể đem tới cho nhân loại quá nhiều tiện như như hôm nay.
Một thời, chúng ta say mê đọc truyện Tàu. Những tác phẩm kinh điển như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Tây Du Ký, vân vân... liên tục như được đọc từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Những trang giấy xưa cổ, ấp ủ những thông tin quý giá về những thời xa vắng của quê nhà, đang biến dần đi.
Học sinh là người của tương lai. Đất nước sau này hưng vong đều nhờ vào các học trò đang ngồi miệt mài học ở các trường lớp. Và không giúp các em, có nghĩa là tự mình cắt đứt những mầm hưng thịnh tương lai của đất nước.
Có một kiểu nói thường nghe quen ở Sài Gòn, khi bất chợt thấy xảy ra những điều trái mắt trái tai: dzô dziên. Nghĩa là “vô duyên.”
Một thời chúng ta ngồi miệt mài đọc sách ở Thư Viện Chùa Xá Lợi, rồi ở Thư Viện Lincoln, rồi ở Thư Viện Quốc Gia... đó là chưa kể những ngày đứng bên các kệ sách Khai Trí để đọc chùa, đọc cọp. Những kỷ niệm về thời say mê sách vở như còn in đậm trong trí nhớ, bất kể những chòm tóc bạc đã phất phơ trước mắt.
Nhiều người nói rằng dân Việt Nam không có văn hóa chen lấn. Nghĩa là, không chịu đứng vào hàng, cứ chen lên trước, cứ chen vô giữa, cứ lấn cho người ta dạt ra sau để mình đứng trước. Có đúng như thế không, và tại sao?
Tại sao những chuyên gia ưu tú, những sinh viên xuất sắc lại muốn rời bỏ Việt Nam? Có phải vì quê nhà đã trở thành nơi chỉ giành những vị trí tốt cho con cháu cán bộ, và để mặc cho các sinh viên tốt nghiệp đaị học ra đường phố ngồi bán trà đá, đạp xe bán dạo cà phê?
Xiếc là một nghề khó theo đuổi. Không phải ai tập cũng được. Do vậy, khi một gánh xiếc lưu diễn vào một thành phố, ai cũng háo hức muốn xem những trò biểu diễn lạ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.